Có phải là duyên phận?
Sign In

Có phải là duyên phận?

Ai đó đã nói, duyên phận là ý trời, nhưng sự lựa chọn là ở chúng ta. Sẽ có một ngày chúng ta phải thầm cảm ơn quá khứ vì nếu không có nó, chúng ta sẽ không thể vững vàng như hôm nay.
Là học sinh chuyên văn, năm 1976, đăng ký nguyện vọng đầu tiên thi vào Khoa Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội), thi đỗ đại học, tôi lại nhận được giấy triệu tập vào học tại trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Đại học Hà Nội). Đáng mừng nhưng cũng đáng ngạc nhiên! Ngạc nhiên hơn nữa là tôi được đi học luật tại nước ngoài.
Tốt nghiệp đại học luật chính quy tại nước ngoài, trở về nước chưa được bao lâu, chưa kịp làm quen với chế độ tem phiếu, chưa được tìm hiểu về các ngành nghề mà mình định xin vào làm thì tôi đã nhận được quyết định phân công về Bộ Tư pháp kể từ tháng 12/1982. Lại một sự ngạc nhiên nữa. Cùng về với tôi năm ấy, có 3 đồng nghiệp, thì đã có 2 người không nhận quyết định và xin đi nơi khác hấp dẫn hơn. Sau một thời gian ngắn làm ở Vụ Tổng hợp, Bộ Tư pháp, tôi là người đầu tiên tự nguyện về công tác tại Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý vào gần cuối năm 1983. Gọi là làm ở Viện, nhưng thực ra, khi có quyết định thành lập Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý vào tháng 8/1983 thì có một Viện trưởng (kiêm nhiệm) và chỉ mình tôi là “Viện viên”. Nhận quyết định xong, tôi chuyển bộ bàn ghế, tủ tài liệu từ nơi làm việc cũ sang phòng mới được phân khoảng 15m2. Các công việc ban đầu là chuẩn bị cơ sở vật chất, nhân sự và cơ cấu tổ chức và kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học. Một trong những công việc đáng nhớ nhất đó là xây dựng, biên tập và phát hành số Thông tin Khoa học pháp lý của Viện - công việc có liên quan đến nghề nghiệp của tôi bây giờ.
Sau đó tôi đi thực tế tại Phòng Tư pháp quận Ba Đình, rồi đi nghĩa vụ quân sự. Sau 2 năm ở bản Phiệt, bản Cầm, Mường Khương, Bát Xát và  Quân khu II, hoàn thành nghĩa vụ quân sự, ra quân, tôi trở về Viện nhưng mọi thứ đã thay đổi khác.
Năm 1989, tôi được cử đi thi nghiên cứu sinh. Sau một năm đèn sách ôn thi, tôi đã đỗ kỳ thi và đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo triệu tập học chính trị để đi nghiên cứu sinh ở Cộng hòa Dân chủ Đức. Thuộc diện chuẩn bị đi học, nên trong thời gian chờ đợi, tôi được cố Tổng biên tập đồng thời là Viện trưởng Nghiên cứu khoa học pháp lý Nguyễn Văn Thảo tăng cường sang làm phóng viên của Tạp chí Pháp chế xã hội chủ nghĩa (nay là Tạp chí Dân chủ và Pháp luật), hồi đó còn trực thuộc Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý. Do biến cố thống nhất nước Đức năm 1990, trường mà tôi đăng ký học tập và nghiên cứu đã không nhận nghiên cứu sinh ngành khoa học xã hội nữa và làm thay đổi nghề nghiệp của tôi. Vì không thể đi học được, nên tôi ở lại và gắn bó với nghề báo chí từ đó. Tôi tự nhủ, mình không có duyên làm nghiên cứu khoa học thì thử sức với nghề báo xem sao. Mà kể cũng lạ, sự “phân công tạm thời” ấy đã kéo dài tới gần 30 năm, cả tổ chức hay tôi đều không ai muốn làm thay đổi nó.
Trong gần 30 năm ấy, tôi đã từng bước dấn thân vào nghề báo chí, lúc đầu là phóng viên, rồi đến biên tập viên, biên tập viên chính với bao kỷ niệm vui, buồn. Làm phóng viên vất vả nhưng thú vị và là sự rèn luyện, thử thách tốt cho công việc biên tập viên. Tôi tâm đắc với nhận định sâu sắc của nhà báo, nhà văn nổi tiếng người Phillipines: “... Điều thiết yếu đầu tiên tôi đã học được từ báo chí: Mọi bài báo phải được hoàn thành như thể bạn đang đưa tin về sự chia cắt Biển Đỏ, hay Cuộc chiến Pinaglabanan, hay sự phân tách của nguyên tử. Một bài phóng sự tốt nói về những điều diễn ra, nhưng đồng thời nói những điều nó biết, nói những điều ngạc nhiên, nói điều có ý nghĩa. Một phóng viên tốt sẽ thẩm thấu trong câu chuyện đến nỗi anh ta trở nên vô hình trong đó, và dường như câu chuyện đang tự kể. Đó là điều cơ bản của một châm ngôn xưa, rất xưa: Tin câu chuyện, chớ tin người kể chuyện”[1].
Thuở ban đầu mơ học văn, mộng làm nghiên cứu khoa học, tôi còn mơ màng lắm. Giờ là nhà báo, tôi thấy gần cuộc sống hơn. Với văn học, người ta có thể hư cấu, thăng hoa hơn với văn chương, còn báo chí, đặc biệt là tạp chí pháp luật, cũng sáng tạo, nhưng phải kịp thời, khách quan, trung thực và chính xác - đó là văn chương khoa học và thực tiễn pháp lý. Báo chí là một nghề mang tính xã hội sâu sắc. Viết được một bài báo, biên tập một bài báo hay không hề dễ. Cần phải có sự tích lũy kiến thức, quan sát thực tế, tổng hợp, phân tích, đánh giá, kết luận và đưa ra những giải pháp cho vấn đề đưa ra. Không chỉ riêng tôi, mà tôi còn cảm nhận được sự vui mừng của cộng tác viên khi bài báo được đăng, những ý kiến của mình được đưa ra công luận, được kiểm định trong cuộc sống nên nó sống động và hữu ích, còn hơn là mất bao nhiêu công tìm tòi nghiên cứu, viết rồi để trong gầm bàn hay chỉ để dành riêng cho mình. Trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi nhà báo luôn phải phấn đấu học hỏi, không ngừng nâng cao, cập nhật kiến thức để phục vụ con người - phục vụ bạn đọc, cùng với họ giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống. Với nhiều bài báo, gồm các thể loại nghiên cứu lý luận, thực tiễn và thông tin, tôi thấy vinh dự được trực tiếp hay gián tiếp, góp phần tham gia giải quyết một số vấn đề pháp lý thời sự của đời sống xã hội ở từng thời điểm nhất định, có khi đó chỉ là những vấn đề nhỏ nhưng thiết thực. Có những bài báo tôi viết ban đầu gần như ít được chú ý đến nhưng ít lâu sau, có rất nhiều sự hưởng ứng. Ví dụ, năm 2006, tôi viết bài báo trên số tháng 2 của Tạp chí với nhan đề là: “Bàn về trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà báo qua một sự kiện pháp lý”, đơn giản chỉ là cảnh báo hiện tượng có một vài bài báo phản ánh chi tiết về một số vụ án mà người viết còn thiếu những kiến thức pháp luật cơ bản dẫn đến việc có thể vi phạm quyền cơ bản của công dân, tổ chức. Vào thời điểm đó, hiện tượng này mới xuất hiện nhưng nhiều năm sau - đến năm 2010 - mới bắt đầu rộ lên một phong trào vận động trong làng báo về chủ đề “nâng cao trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân” của nhà báo và tình hình đã được cải thiện hơn nhiều. Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên và thú vị.
Công việc chính ở Tạp chí là biên tập, viết bài khi cần thiết. Biên tập không chỉ là nghiệp vụ báo chí mà là gắn liền với nghiên cứu khoa học pháp lý, bởi lẽ, nếu không có sự nhạy bén về chính trị, kiến thức chuyên môn sâu rộng ở nhiều lĩnh vực, thì khó có thể biên tập, xử lý được những bài viết nghiên cứu của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và thực tiễn.
Tôi được đào tạo chính quy chuyên ngành luật, với 3 bằng: Đại học luật, thạc sỹ nghiên cứu và tiến sỹ luật tại khoa luật của các trường đại học tổng hợp có danh tiếng ở Đức và Úc, và sử dụng thành thạo 2 ngoại ngữ là Đức và Anh. Với vốn liếng đào tạo đó, nhiều người có thể lo cho mình một công việc tốt tại nước ngoài hoặc ít nhất là tại một công ty nước ngoài ở trong nước. Còn tôi lại dấn thân vào nghề báo chí. Hơn nữa, để làm báo, tôi phải đi đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí. Một vài bạn bè phê bình tôi học lắm, nhiều bằng cấp nhưng không biết khai thác nó để tiến thân lại lãng phí thế. Có lúc tôi cũng hơi chạnh lòng khi nghĩ mình được đào tạo bài bản, chính quy mà không theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học, trong khi nhiều người phải lận đận với “tại chức”, “chuyên tu” để làm công việc đó. Nhưng càng gắn bó với Tạp chí thì tôi thấy nỗi buồn đó là vô căn cứ. Hơn nữa, nhiều đồng nghiệp của tôi cũng được đào tạo tốt và có nhiều bằng cấp đấy thôi. Nhiều bằng cấp có khi là do sự hiếu học. Với lại, bằng cấp chỉ là dấu mốc xác nhận kết thúc một giai đoạn đào tạo, cho sự trưởng thành về mặt nghiệp vụ chuyên môn, nghiên cứu khoa học của mình mà sự học thì chẳng biết bao nhiêu là vừa và bao nhiêu là đủ. Bằng cấp phải có ích cho cuộc sống nói chung và công việc nói riêng. Đó là nhu cầu của công việc, là sự tự khẳng định bản thân hơn là sự xác nhận của một tờ giấy có dấu đỏ. Dần dần, tôi thấy mình làm Tạp chí không có nghĩa là xa rời công việc nghiên cứu khoa học mà thực ra là gắn bó và thiết thực hơn. Chỉ cần biết rằng, những kiến thức mình đã học, dù ít hay nhiều và những gì thích hợp với thực tế cuộc sống, được phục vụ cho công việc, là tốt lắm rồi. Làm ở Tạp chí không chỉ rèn luyện cho minh phong cách viết, mà cả tư duy khoa học, logic và đặc biệt là những kỹ năng nghiên cứu và lập luận, tranh luận và phản biện... Vì thế mà tôi càng có điều kiện để đăng tải những công trình khoa học chuyên ngành mình được đào tạo, qua các bài báo khoa học và cả viết sách.
Năm nay là Kỷ niệm 40 năm thành lập Tạp chí - ngoài 8 năm làm việc tại Viện - tôi đã có gần 30 năm làm việc tại Tạp chí. Kiểm đếm lại những gì đã trải qua, tôi mới thấm thía sao đời thật không như mơ. Mơ học văn thì đi học luật. Học luật về làm Tạp chí. Giờ tôi mới hiểu hơn câu ngạn ngữ người Pháp: “Đời là như thế đấy! (c’est la vie!)”. Sự nghiệp một con người không chỉ phụ thuộc vào sự phấn đấu của bản thân, bằng cấp - nhất là với những người hăng say phấn đấu chỉ biết đến chuyên môn một cách vô tư - mà còn vào nhiều yếu tố khác đôi khi không liên quan gì đến chuyên môn. Một người không giỏi bon chen, xoay xở nghề nghiệp ở thời điểm khó khăn như tôi thì khó lòng phát huy tối đa sở trường chuyên môn của mình, nhưng điều tôi luôn tự tin ở mình là khả năng và bản lĩnh. Có nó thì người ta có thể tồn tại ở bất cứ đâu. Tôi kết duyên với nghề báo bằng một sự kiện tình cờ và sống hạnh phúc thầm lặng với nó trọn đời viên chức. Ai đó có thể cho là duyên phận nhưng thực ra là sự lựa chọn của tôi. Người đời nói: “Đức năng thắng số” mà.
Tôi đã và đang ngày càng gắn bó với tập thể Tạp chí qua mấy thế hệ khác nhau, cùng nhau phấn đấu không ngừng vươn lên trong tinh thần đoàn kết, phối hợp, đấu tranh và thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Tôi đang vinh dự cùng với những người đồng nghiệp của mình đặt thêm những viên gạch cho ngôi nhà của Tạp chí.
Dương Thiên
Tài liệu tham khảo:
[1]. Nick Joaquin, Báo chí đối lập văn chương,
Nhã Thuyên dịch (nguồn http://www.rmaf.org. ph/Awardees/Lecture/LectureJoaquinNic.htm).