Sự tương thích của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với pháp luật dân sự về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Sign In

Sự tương thích của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với pháp luật dân sự về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

1. Các điểm tương thích
Thứ nhất, quy định về đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp đương sự tham gia tố tụng chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế là phù hợp với pháp luật dân sự 2015
Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Dân sự năm 2015, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân bao gồm các quyền:
“1. Quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản
2. Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản
3. Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó”
Trong các quyền trên,quyền nhân thân thuộc nhóm quyền “gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” (khoản 1 Điều 25 Bộ luật Dân sư năm 2015). Do vậy khi cá nhân đang tham gia vào các vụ án phát sinh từ quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng (ly hôn, giải quyết vấn đề nuôi con)...mà xuất hiện sự kiện đương sự chết thì quyền và nghĩa vụ của họ không thể được chuyển giao cho chủ thể khác. Sự kiện này làm cho quá trình giải quyết vụ án của Tòa án bị chấm dứt và Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Nói cách khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp với các quy định về quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân quy định tại Chương III Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, đối với vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật, vừa có quan hệ nhân thân, vừa có quan hệ tài sản cần giải quyết (ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng đồng thời giải quyết yêu cầu của chủ nợ đối với vợ chồng...) thì việc một trong các đương sự chết cũng không làm chấm dứt việc giải quyết các quan hệ tài sản. Trong trường hợp này, Tòa án chỉ đình chỉ giải quyết yêu cầu đối với quan hệ nhân thân chứ không đình chỉ giải quyết vụ án.
Thứ hai, quy định về đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp “Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt…” phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”. Nói cách khác, các quan hệ pháp luật dân sự là các quan hệ được thiết lập dựa trên ý chí tự nguyện, tinh thần hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi của các bên. Pháp luật tôn trọng và tạo điều kiện tối đa để các chủ thể thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ pháp luật dân sự.
Mặt khác, trước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự đã là chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng). Do đó, khi quan hệ pháp luật nội dung được thiết lập dựa trên ý chí tự nguyện, tinh thần hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi của các bên; thì quan hệ pháp luật tố tụng dân sự tất yếu phải được xác lập dựa trên nguyên tắc đó. Nhằm tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của đương sự, pháp luật tố tụng dân sự cho phép các chủ thể có quyền tự định đoạt về việc có tiếp tục giải quyết vụ án dân sự hay không thông qua hành vi của đương sự. Theo đó, hành vi này được thể hiện dưới hai hình thức: “Rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện” (hành động) hoặc “nguyên đơn đã được triệu tập lần thứ hai vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan” (không hành động). Quy định này nhằm tạo sự linh hoạt cho cơ quan có thẩm quyền (Tòa án) trong việc giải quyết vụ án dân sự, tránh tình trạng tồn đọng án; đồng thời mở rộng tối đa quyền tự định đoạt của đương sự trong việc giải quyết vụ án dân sự.
Thứ ba, quy định về đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp “Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó” là phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật Phá sản năm 2014
Quy định này phù hợp với Điều 71 của Luật Phá sản năm 2014 “Trường hợp Tòa án ra quyết định mở thủ tục pháp sản, Tòa án, Trọng tài, cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định tạm đình chỉ theo quy định tại Điều 41 của Luật này phải ra quyết định đình chỉ và chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án đang tiến hành thủ tục phá sản giải quyết”. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự nếu một trong các bên đương sự của vụ án doanh nghiệp, hợp tác xã đã có quyết định mở thủ tục phá sản thì các quyền, nghĩa vụ của đương sự sẽ được giải quyết theo thủ tục phá sản. Vì vậy, Tòa án đang giải quyết vụ án dân sự đó sẽ đình chỉ giải quyết vụ án kể từ ngày có quyết định phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã của TA có thẩm quyền đồng thời TA này phải chuyển hồ sơ vụ án cho TA đang tiến hành thủ tục phá sản để giải quyết.
Thứ tư, quy định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp “Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết”là phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015
Quy định này phù hợp với khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyết từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc áp dụng đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”.
Việc khởi kiện vụ án dân sự được quy định tại Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Tuy nhiên, việc khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án chỉ được thực hiện trong một thời hạn do Luật quy định, hết thời hạn đó thì người có quyền khởi kiện bị mất quyền khởi kiện. Thời hạn được thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự gọi là thời hiệu khởi kiện. Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Thời hiệu khởi kiện vụ án được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thức thì mất quyền khởi kiện.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự không áp dụng trong những trường hợp sau đây: (i) Yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước; (ii) Yêu cầu bảo vệ quyền nhân dân bị xâm phạm trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; (iii) Các trường hợp khác do pháp luật quy định. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây: (i) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; (ii) Bên nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; (iii) Các bên đã tự hòa giải với nhau.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án đối với một số tranh chấp được quy định như sau: Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng (Điều 129); thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 588)… là ba năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm; Thời hiệu để người yêu cầu chia di sản thừa kế (Điều 623) là ba mươi năm đối với bất động sản, mười năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế…. Thời điểm để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế.Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế.Theo Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015, không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong các trường hợp sau đây: (i) Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn liền với tài sản; (ii) Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có quy định khác; (iii) Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai; (iv) Các trường hợp khác do luật quy định.Có thể nhận thấy, thời hiệu thực hiện quyền khởi kiện quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là nhiều hơn so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Các quy định về không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật Dân sự năm 2015 được mở rộng hơn, bổ sung thêm một số tranh chấp không áp dụng thời hiệu khởi kiện là các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản do người khác quản lý, tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.Bên cạnh các quy định của Bộ luật Dân sự, các văn bản pháp luật khác cũng quy định về thời hiệu khởi kiện như: Luật Thương mại năm 2005 quy định thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm… (Điều 3)
Như vậy, có thể thấy đi cùng sự thay đổi của Bộ luật Dân sự  năm 2015 thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng có những chuyển biến để phù hợp với pháp luật nội dung nhằm giải quyết các Vụ việc dân sự theo nghĩa rộng đảm bảo quyền, lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng.
2. Các điểm không tương thícvà kiến nghị nhằm hoàn thiện
Thứ nhất, điểm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 “Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế”
Theo pháp luật dân sự, khi một người chết đi mà các quyền, nghĩa vụ có thể được chuyển giao (thường là quyền, nghĩa vụ về tài sản) thì người thừa kế của người này có quyền được thừa kế những quyền và nghĩa vụ đó.Ngược lại, cũng có những quyền, nghĩa vụ sẽ không được chuyển giao (thường là quyền, nghĩa vụ về nhân thân) thì người thừa kế của người này không có quyền được thừa kế những quyền và nghĩa vụ đó.
Hiện nay, theo quy định tại Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khi đương sự chết, chỉ có những quyền và nghĩa vụ về tài sản của đương sự đã chết có thể để lại thừa kế (có thể chuyển giao) thì người thừa kế mới có quyền kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Tuy nhiên, quy định này đã hạn chế quyền được thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của người thừa kế trong một số trường hợp.Trên thực tế, có một số quyền, nghĩa vụ về nhân thân của đương sự đã chết vẫn có thể được thừa kế như quyền công bố tác phẩm được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ.
Quyền tác giả bao gồm hai nhóm quyền: Quyền tài sản và quyền nhân thân. Quyền tài sản bảo vệ các lợi ích kinh tế của tác giả và cho phép tác giả thu lợi bằng cách khai thác trực tiếp hoặc gián tiếp tác phẩm. Quyền nhân thân bảo vệ sự toàn vẹn về sáng tạo và danh tiếng của tác giả sáng tạo được thể hiện thông qua tác phẩm. Quyền nhân thân bao gồm: Quyền đặt tên cho tác phẩm; Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố tác phẩm; Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm,…
Tham chiếu vào Khoản 2 Điều 22 Nghị định 100/2006/NĐ-CP về quyền tác giả và quyền liên quan ta có khái niệm công bố tác phẩm như sau: “Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng tuỳ theo bản chất của tác phẩm, do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả”.Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.
Ngoài ra, cũng có những quyền, nghĩa vụ về tài sản sẽ không được chuyển giao như nghĩa vụ cấp dưỡng. Về bản chất, nghĩa vụ cấp dưỡng là sự biểu đạt vật chất của tình đoàn kết giữa các thành viên trong cùng một gia đình, là nghĩa vụ mà luật áp đặt đối với một thành viên trong gia đình, theo đó thành viên này phải giúp đỡ các thành viên khác. Theo quy định của pháp luật nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ, con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại với cháu; giữa cô, gì, chú, cậu, bác ruột với cháu; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản khác liên quan. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.Chính vì vậy, mặc dù là quyền tài sản những nó gắn liền với nhân thân do vậy khi đương sự chết sẽ không thể thừa kế lại cho chủ thể khác quyền, nghĩa vụ này.
Thứ hai, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 “Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan”
Có thể thấy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có sự thay đổi về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự bằng việc bỏ đi quy định về điều kiện “được Tòa án chấp nhận” khi “người khởi kiện rút đơn khởi kiện” (điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011). Sự thay đổi này nhằm nâng cao và tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của đương sự đã được công nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2015 khi tham gia vào các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, nếu bỏ đi quy định về yêu cầu “được Tòa án chấp nhận” theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì trên phương diện nhất định, pháp luật tố tụng dân sự đã vô tình làm tăng thêm gánh nặng của cơ quan Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân không được lạm dụng quyền dân sự của mình gây thiệt hại cho người khác, để vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện mục đích khác trái pháp luật”
Nếu theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 thì việc đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện sẽ chỉ được tiến hành nếu được Tòa án chấp nhận. Quy định này như một “lá chắn” yêu cầu người khởi kiện trước khi khởi kiện phải có sự suy xét kĩ lưỡng, quyết định khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và của người khác.
Ngoài ra, trong một vụ án dân sự nếu chỉ có duy nhất một nguyên đơn thì việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì được coi như từ bỏ quyền khởi kiện và Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án (không có yêu cầu phản tố của bị đơn hay yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan). Nhưng trên thực tế hiện nay, trong một vụ án dân sự có thể có từ hai nguyên đơn trở lên, nếu chỉ một trong các nguyên đơn rút đơn khởi kiện hay vắng mặt đến lần thứ hai mà không có lý do chính đáng thì có đình chỉ giải quyết vụ án với tất cả các yêu cầu của các nguyên đơn hay không.
Hơn nữa, Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
Như vậy theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đương sự có quyền rút lại đơn khởi kiện của mình ở cả trong giai đoạn xét xử sơ thẩm cũng như giai đoạn xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên trên thực tế, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì lại phát sinh một số vướng mắc, cụ thể tại Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
Trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và tuỳ từng trường hợp mà giải quyết như sau:
a) Bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn;
b) Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án….”
Tuy nhiên điều luật trên chưa đề cập đến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Trên thực tế nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện và bị đơn đồng ý; nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập kháng cáo giữ nguyên yêu cầu độc lập và yêu cầu kháng cáo thì trong trường hợp này sẽ giải quyết như thế nào?
Có quan điểm cho rằng trong trường hợp này sẽ thay đổi địa vị tố tụng, nghĩa là nếu nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện và bị đơn đồng ý nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn. Tuy nhiên quan điểm này chưa có cơ sở bởi vì thay đổi địa vị tố tụng theo quy định tại Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 chỉ áp dụng cho giai đoạn xét xử sơ thẩm, còn giai đoạn xét xử phúc thẩm không có quy định về việc thay đổi địa vị tố tụng.
Cũng có quan điểm cho rằng trong trường hợp này Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đồng thời hướng dẫn người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan khởi kiện lại đối với yêu cầu của mình.
Vì chưa có hướng dẫn của cấp trên nên trên thực tế khi gặp những trường hợp nói trên thì có nhiều cách giải quyết khác nhau, chưa có sự thống nhất.Để việc áp dụng pháp luật được thống nhất đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự thiết nghĩ liên ngành cấp trên cần có hướng dẫn cụ thể để giải quyết trường hợp vừa nêu.   
Thứ ba, điểm g khoản 1 Điều 217 “Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý”
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật này nhưng Tòa án vẫn tiến hành thụ lý thì sau đó phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217. Theo Điều a khoản 1 Điều 192 Tòa án sẽ phải trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp : “Người khởi kiện không có quyền khởi theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự”. Như vậy, trong trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện (không phải chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung, không phải người đại diện hợp pháp của chủ thể quan hệ pháp luật nội dung hoặc không được pháp luật quy định có quyền khởi kiện) mà khởi kiện thì Tòa án trong trường hợp đã thụ lý phải đình chỉ giải quyết vụ án. Quy định này nhằm hạn chế việc chủ thể khởi kiện không có tư cách của nguyên đơn do không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật cần giải quyết, không có tư cách của người đại diện hợp pháp của đương sự.
Tuy nhiên, việc quy định như vậy của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 lại mâu thuẫn Luật Thi hành án dân sự. Ví dụ: Ngày 12/12/2014, Bản án dân sự sơ thẩm số 202 tuyên ông Nguyễn Văn A phải trả cho bà Trần Thị B số tiền 400 triệu đồng có hiệu lực và phải được thi hành án. Ngày 01/02/2015, ông A bán nhà cho ông C trị giá 900 triệu đồng (có công chứng). Ngày 03/03/2015, bà B làm đơn yêu cầu thi hành án (ông A không còn tài sản). Câu hỏi đặt ra trong trường hợp này bà B có quyền khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng bán nhà giữa ông A và ông C hay không?
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bà B không phải chủ thể của quan hệ pháp luật (mua bán nhà) giữa ông A và ông B nên không đủ điều kiện khởi kiện VADS. Tuy nhiên, theo Điều 75 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết…” chúng ta có thể thấy bà B hoàn toàn có quyền khởi kiện tại Tòa án và theo quy định này Tòa án phải thụ lý và giải quyết theo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự. Việc quy định này của Luật Thi hành án dân sự hoàn toàn phù hợp với thực tiễn hiện nay khi việc hoạt động thi hành án ngày càng trở nên khó khăn do phía người phải thi hành án thường trốn tránh nghĩa vụ của mình bằng cách tẩu tán tài sản. Việc quy định như vậy tạo sự chủ động cho người được thi hành án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Chính vì lẽ đó, trong trường hợp này, pháp luật cần có sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật tránh gây lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng. Và quan trọng hơn cả là giữa hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án của Tòa án với cơ quan thi hành án.
 Thứ tư, khoản 4 Điều 217 “Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có),…”
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, một vụ án dân sự có thể được giải quyết thông qua hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm hoặc chỉ thông qua một cấp xét xử sơ thẩm (không có kháng cáo, kháng nghị) và Bản án, quyết định của Tòa án sẽ có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã hoặc đang được thi hành án vẫn có thể được xem xét lại nếu phát hiện có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc phát hiện tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án. Lúc này, nếu vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị hủy và bị yêu cầu xét xử lại tiếp tục bị đình chỉ giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có). Tuy nhiên, chính việc đưa một quy định mới vào trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như vậy khi chưa có sự thống nhất với Luật thi hành án dân sự đã dẫn đến sự mâu thuẫn trong quá trình áp dụng pháp luật. Cụ thể trường hợp sau:
Ông A khởi kiện ông B trong việc tranh chấp một ngôi nhà trên phố Liễu Gia. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều tuyên ngôi nhà thuộc về ông A, giá trị căn nhà tại thời điểm thi hành án dân sự là 700 triệu đồng. Dựa trên bản án của Tòa án cấp phúc thẩm ông A đã bán ngôi nhà cho ông C với giá 500 triệu đồng. Sau đó, ông B làm đơn đề nghị và đã được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo đó, bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm là sai (ngôi nhà thuộc về ông B) và cần hủy để giải quyết lại từ cấp sơ thẩm.
Trong trường hợp này, khoản 3 Điều 135 Luật thi hành án dân sự có quy định như sau: “ Trường hợp tài sản đã được chuyển dịch hợp pháp cho người thú ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyềnlà chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người ngày không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện trạng thì chủ sở hữu tài sản ban đầu không lấy lại tài sản nhưng được bồi hoàn giá trị của tài sản...”. Như vậy, trong trường hợp này, ông B sẽ nhận lại số tiền tương ứng với giá trị ngôi nhà tại thời điểm thi hành án dân sự là 700 triệu đồng. Tuy nhiên, số tiền ông A nhận được khi bán ngôi nhà cho ông C chỉ là 500 triệu đồng, vậy 200 triệu còn lại do giá trị tài sản bị thi hành án giảm sút cơ quan nào sẽ phải chịu trách nhiệm thanh toán. Hiện nay, pháp luật mới chỉ giải quyết vấn đề giá trị tài sản tăng sau khi thi hành án dân sự, còn trong trường hợp tài sản giảm giá trị sau khi thi hành án dân sự thì chưa có quy định cụ thể.Thiết nghĩ, pháp luật về bồi thường nhà nước cần quy định cụ thể về vấn đề này.
Ngoài ra, trong trường hợp sau khi quay lại giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, ông A rút đơn khởi kiện, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp ông B đồng ý. Nhưng sau đó, ông B khởi kiện lại do không đồng ý với quyết định giải quyết hậu quả của việc thi hành án dân sự từ Tòa án có được thụ lý giải quyết hay không khi mà vụ án này đã được giải quyết thông qua một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (một trong các điều kiện khởi kiện). Đây là một trong những điểm không tương thích giữa Bộ luật tố tụng dân sự với luật thi hành án dân sự cần có sự điều chỉnh phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Do đó, để việc áp dụng pháp luật được thống nhất đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự thiết nghĩ liên ngành cấp trên cần có hướng dẫn cụ thể để giải quyết trường hợp vừa nêu.
Phan Thanh Dương
Đại học Luật Hà Nội
 
 
Liên kết website