Sự cần thiết của hoạt động trợ giúp pháp lý trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
Sign In

Sự cần thiết của hoạt động trợ giúp pháp lý trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Hiện nay, công tác trợ giúp pháp lý đã đạt được nhiều kết quả, góp phần phát huy vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Bài viết này phân tích một số khía cạnh lý luận và thực tiễn về sự cần thiết của hoạt động trợ giúp pháp lý trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.

Abstract: Legal aid work has currently gained good results contributing to the promotion of the role of law in the protection of rights and legal interests of citizens, the political stabilization, order and social security. This article analyses some theoretical and practical aspects on the need of legal aid work in the current social life of Vietnam.


Cho đến nay, qua 20 năm hình thành và phát triển, công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) đã đạt được nhiều kết quả, khẳng định được vị trí và vai trò của mình trong việc giúp đỡ về mặt pháp luật cho đông đảo người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng khác, góp phần phát huy vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đặc biệt, vừa qua, ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi), qua đó đánh dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế công tác này. Đây là một trong những luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ban hành nhằm triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 và thay thế Luật Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11. Trong giai đoạn tiếp theo, cần phải tiếp tục truyền thông mạnh mẽ về vị trí, vai trò của TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam để nhiều người biết về quyền được TGPL, tổ chức TGPL... để tìm đến và sử dụng dịch vụ, đồng thời có sự quan tâm thích đáng đến công tác TGPL. Bài viết này xin phân tích một số khía cạnh lý luận và thực tiễn về sự cần thiết của hoạt động TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay (hay cũng chính là vị trí, vai trò của TGPL) như sau:
1. Yêu cầu từ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trong Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng, Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật, quan tâm đến người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội bằng các chính sách, pháp luật và các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ cụ thể và đưa họ vào đời sống Nhà nước và pháp luật để pháp luật thực sự phản ánh ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lại càng phải quan tâm, chú trọng hơn nhằm tăng cường các biện pháp để bảo vệ quyền, lợi ích của nhóm dân cư này, hạn chế phân hóa giàu nghèo, bảo đảm công bằng xã hội, thực thi trên thực tế nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thể hiện tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy, chính Nhà nước phải là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong bảo đảm cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội có được chính sách, pháp luật bình đẳng, tạo điều kiện cho họ được hỗ trợ, giúp đỡ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi TGPL phải tồn tại và hướng đến mục tiêu bảo đảm bình đẳng trước pháp luật. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, TGPL gắn với quá trình giải quyết những vấn đề nảy sinh trong các mối quan hệ xã hội đã giúp nâng cao nhận thức pháp luật cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội. Thông qua những vụ việc cụ thể, TGPL đã giúp những nhóm người này nắm bắt được nội dung pháp luật và cách thức áp dụng để giải quyết các vấn đề cụ thể trong cuộc sống giúp họ nắm được nội dung các văn bản pháp luật, hiểu và vận dụng, sử dụng pháp luật một cách chính xác, tích cực để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các quan hệ xã hội. Có thể nói, TGPL là một trong những khâu làm hoàn chỉnh hơn vai trò của Ngành Tư pháp từ việc xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật để đưa pháp luật vào đời sống xã hội có hiệu quả, qua đó, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
2. Yêu cầu trong việc bảo đảm quyền con người
Xuất phát điểm của việc hình thành và phát triển TGPL trên thế giới chính là góp phần thi hành dân chủ, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, tôn trọng nhân quyền, khơi dậy và phát huy tiềm năng con người, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã ghi nhận: “Quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật và quyền được bào chữa”; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng trước các Tòa án, cơ quan tài phán và có quyền được hưởng một cách đầy đủ, bình đẳng quyền được bào chữa, ngay cả khi họ không có điều kiện chi trả”. Ngày càng có nhiều điều ước, hiệp ước quốc tế, kế hoạch hành động, các tuyên bố quốc tế yêu cầu hoặc khuyến khích các quốc gia ban hành các đạo luật để bảo đảm quyền con người, quyền công dân... Việc Việt Nam là thành viên của nhiều Công ước quốc tế về quyền con người đặt ra yêu cầu Nhà nước cần có trách nhiệm bảo đảm thực thi trên thực tế các quyền đó, kiểm soát được các tiêu cực mới phát sinh. Nhà nước phải thể hiện vai trò của mình trong bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyền con người, quyền công dân cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội để họ có điều kiện bình đẳng với các chủ thể khác khi tham gia đời sống xã hội và pháp luật. Nhà nước phải có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho nhóm người này, đồng thời kiểm soát được chất lượng các dịch vụ này, bảo đảm công bằng, bình đẳng với các đối tượng khác trong xã hội. Bởi vì họ là nhóm đối tượng yếu thế, không có đủ năng lực, điều kiện nắm bắt, sử dụng pháp luật để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, vì thế, hơn ai hết họ phải được quan tâm, giúp đỡ. Có như vậy, mới phản ánh đúng đắn và đầy đủ bản chất Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mới bảo đảm để tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tạo lập công bằng, bình đẳng trên thực tế giữa các chủ thể.
3. Yêu cầu trong việc bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc tranh tụng và công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”; “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, tức là phán quyết của Tòa án phải dựa trên kết quả tranh tụng, như vậy, vai trò của người bào chữa trong phiên tòa ngày càng quan trọng, nếu không có người bào chữa tham gia thì không thể bảo đảm nguyên tắc tranh tụng và khó có phiên tòa công bằng. Như vậy, đội ngũ người bào chữa nói chung cần được tăng cường hơn nữa nhằm đáp ứng nguyên tắc tranh tụng tại Tòa án và quyền bào chữa theo tinh thần Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Một trong những cách thức để tổ chức thi hành những quy định mới về quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực tư pháp là sử dụng đúng mục đích, hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và huy động tối đa nguồn lực xã hội để đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu TGPL, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó nâng cao vị thế, vai trò của pháp luật trong quản lý đất nước, quản lý xã hội và bảo vệ quyền công dân, góp phần xây dựng nền tư pháp công bằng, dân chủ. Đồng thời, qua quá trình thực hiện nghiệp vụ, hoạt động TGPL cũng sẽ góp phần thực thi công lý, giúp Tòa án thực hiện đúng nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, đưa ra các phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, giảm thiểu các lượng án oan sai trong các phiên tòa hình sự. Hơn nữa, góp phần hướng dẫn giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc phức tạp, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài trong thời gian dài do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến giảm lòng tin của người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính đối với pháp luật của Nhà nước; góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phù hợp với mục tiêu cải cách tư pháp. Đồng thời, công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp cũng đòi hỏi phải đẩy mạnh xã hội hóa (đa dạng hóa nguồn lực) hoạt động TGPL góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp công trong lĩnh vực TGPL, phát huy tính chủ động, nâng cao ý thức thực hiện trách nhiệm xã hội của các tổ chức xã hội, nhất là của đội ngũ luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư trong việc TGPL cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội.
4. Yêu cầu từ công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, dân tộc và chính sách an sinh xã hội
Trong những năm qua, một trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm là công tác xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là giảm nghèo bền vững được coi là một quyết sách lớn để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Công tác này đã được triển khai khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, y tế... Với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững và bảo đảm các chính sách an sinh xã hội trên thực tế, đặt ra yêu cầu TGPL phải trở thành một nội dung quan trọng trong tổng thể chương trình xóa đói, giảm nghèo và an sinh xã hội. Có ý nghĩa giảm nghèo về mặt pháp luật, TGPL giúp chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước càng trở nên toàn diện hơn; hơn nữa, cùng chung đối tượng hướng đến, do đó, TGPL đã được coi như là một bộ phận cấu thành trong tổng thể giải pháp xóa đói, giảm nghèo, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng xã hội, là một chính sách lớn trong tổng thể các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Việc thành lập tổ chức TGPL miễn phí cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính ở Việt Nam ban đầu xuất phát từ chủ trương xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, đảm bảo công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước. Tại kỳ họp lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ngày 18/6/1997, lần đầu tiên trong Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ đạo định hướng triển khai công tác TGPL theo hướng: “Tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí”. Đây là cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng,  khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận pháp luật của người nghèo. Chính vì vậy, đòi hỏi công tác này cần phải lấy người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính làm trung tâm cho mọi chính sách và hoạt động của mình.
5. Yêu cầu từ thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý
Trong thị trường dịch vụ pháp lý nói chung, luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư là một bộ phận giữ vai trò lớn bên cạnh các thiết chế của Nhà nước và xã hội khác là Trung tâm TGPL nhà nước, Trung tâm tư vấn pháp luật của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp, chính trị - xã hội; luật gia, chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, tư pháp... Tính đến hết tháng 6/2017, cả nước có 3.757 tổ chức hành nghề luật sư với 11.396 luật sư, tuy nhiên, số lượng luật sư này so với tổng dân số trên cả nước còn rất thấp và có sự phát triển mất cân đối giữa khu vực thành thị và khu vực miền núi, trung du. Tính trên tổng dân số 95 triệu thì trung bình hơn 8.000 người dân mới có 01 luật sư. Tỷ lệ này là quá nhỏ so với nhu cầu tiếp cận và sử dụng pháp lý của người dân, đặc biệt là người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội.
Có thể thấy, số lượng luật sư ở nước ta hiện nay chưa đủ để đáp ứng nhu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng tăng của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trên thực tế, chỉ khoảng trên 20% vụ án hình sự trong cả nước có sự tham gia của luật sư. Ở nhiều địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, số lượng luật sư chưa đủ để bào chữa trong các vụ án bắt buộc có sự tham gia của luật sư mà phải mời các luật sư ở địa phương khác, do đó, nhiều vụ án phải tạm hoãn, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng. Sự thiếu vắng luật sư trong nhiều vụ án hình sự (khoảng 80%) đã không bảo đảm được nguyên tắc tranh tụng, quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án.
Khi mà đội ngũ luật sư còn quá ít, chưa đủ số lượng để đáp ứng được nhu cầu pháp lý trong dân cư, hơn nữa, việc cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư là hoạt động có thu phí thì người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính… khó có thể tiếp cận được dịch vụ của luật sư. Họ thường không có điều kiện về kinh tế để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí nên trong nhiều trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không có luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm hại. Xuất phát từ yêu cầu trên, tổ chức TGPL của Nhà nước ra đời và phát triển đã tạo cơ chế cần thiết để người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội được tiếp cận và sử dụng dịch vụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình để tham gia vào các quan hệ xã hội, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật và góp phần thực hiện công bằng xã hội. Sự ra đời và phát triển của TGPL như một “mảnh ghép” trong thị trường dịch vụ pháp lý nói chung, chỉ khác rằng người được thụ hưởng lại hoàn toàn được miễn phí và TGPL là trách nhiệm của Nhà nước, Nhà nước sẽ tổ chức thực hiện nhiệm vụ này.
6. Yêu cầu trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và khắc phục hệ quả từ mặt trái của nền kinh tế thị trường
Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và việc hội nhập với nền kinh tế thế giới, mặt tích cực là thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển nhưng đi kèm với nó là một số biểu hiện tiêu cực như gia tăng sự phân hóa giàu - nghèo, đồng thời đưa đến những hệ lụy khác trong xã hội. Những vấn đề đó, nhất là sự phân hóa giàu - nghèo ngày càng rõ rệt, khoảng cách về kinh tế ngày càng cách xa thì tất yếu sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các điều kiện y tế, giáo dục, văn hóa…, trong đó có việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý. Hơn nữa, từ các vấn đề của nền kinh tế đã dẫn đến phát sinh những mối quan hệ trong xã hội đòi hỏi sự điều chỉnh của pháp luật.
Mặt khác, trong điều kiện hệ thống pháp luật nước ta đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện, số lượng văn bản pháp luật ngày càng nhiều và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung thì việc người dân tiếp cận với pháp luật để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, xử sự phù hợp trong các quan hệ xã hội không phải dễ dàng, do đó, TGPL của Nhà nước cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính là yêu cầu khách quan và cần thiết. Hơn nữa, thông qua hoạt động TGPL cũng có thể phát hiện ra các quy định pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo để đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Đồng thời, các vụ việc kiến nghị công vụ cũng góp phần tăng thêm vai trò, trách nhiệm cho cơ quan nhà nước khi thực thi công vụ.
7. Yêu cầu trong quá trình hội nhập thế giới một cách toàn diện
Mặc dù có sự khác nhau trong định hướng xu hướng phát triển giữa những nước có hệ thống TGPL phát triển lâu đời và những nước mới thành lập nhưng mục đích chung mà các nước đều hướng đến là sử dụng TGPL như một công cụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho nhóm người yếu thế trong xã hội. Mặt khác, năm 2012, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thừa nhận TGPL là một thành tố cơ bản của hệ thống tư pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền, là cơ sở cho việc thụ hưởng các quyền khác. Nhà nước cần bảo đảm tất cả những người bị bắt, bị giam giữ, bị tình nghi hoặc vi phạm luật hình sự bị phạt tù có thời hạn hoặc bị kết án tử hình đều có quyền được TGPL ở tất cả các giai đoạn của tư pháp hình sự. Như vậy, quyền được tiếp cận TGPL là quyền rất quan trọng trong tư pháp hình sự thế giới. Trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì quyền tiếp cận TGPL cũng cần được coi là quyền cơ bản của công dân, bảo đảm bất kỳ người dân không phân biệt giàu hay nghèo đều có quyền có luật sư bảo vệ trong phiên tòa hình sự để hưởng phiên tòa công bằng. Bên cạnh đó, ngày 12/11/2013, Việt Nam đã chính thức là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc, đây là Hội đồng có tiếng nói quan trọng nhất trong hệ thống các thể chế của Liên Hợp Quốc về quyền con người, góp phần thúc đẩy sự tôn trọng và bảo vệ trên phạm vi toàn cầu các quyền con người và tự do cơ bản một cách công bằng, bình đẳng và không phân biệt đối xử. Điều này sẽ vừa là cơ hội, vừa là thách thức trong vấn đề bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam, trong đó, vấn đề bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự được coi là một trong những vấn đề cơ bản của nhân quyền. Hiện nay, Cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) được Hội đồng Liên Hợp Quốc giao nhiệm vụ chủ trì cùng các nước xây dựng Luật Mẫu TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự, là nền tảng, căn cứ để các nước tham khảo, học tập áp dụng mô hình phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội với mình.
Hiện nay, có một nhận thức mang tính quốc tế, đó là tiếp cận công lý là một quyền cơ bản của con người liên quan đến pháp luật hình sự. Con người không thể bị cản trở tiếp cận với công lý, đặc biệt khi quyền tự do hoặc cuộc sống của họ bị đe dọa do thiếu nguồn lực để thuê luật sư bảo vệ. Nhiều nước trên thế giới coi TGPL là một trong các tiêu chí của Nhà nước pháp quyền, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Hiến pháp nhiều nước quy định quyền được TGPL trong tư pháp hình sự là một trong các quyền cơ bản của công dân, bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho những người không có khả năng thuê luật sư, đặc biệt trong vụ án hình sự. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật. Xuất phát từ việc hội nhập thế giới mang tính toàn diện, chế định TGPL là rất cần thiết để giúp đỡ pháp lý cho người thuộc diện chính sách và người có khó khăn về tài chính trong xã hội.
8. Yêu cầu từ thực tiễn
Nhìn từ thực tiễn hai mươi năm xây dựng và phát triển có thể thấy rằng, đây là chặng đường đầy gian khó để TGPL xác định cho mình một chỗ đứng, một vị thế, một mô hình tổ chức phù hợp, phản ánh đúng vị trí, vai trò, đồng thời phát huy hiệu quả của TGPL trong việc thực hiện quyền con người, quyền công dân, góp phần vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chính từ thực tiễn đó đã yêu cầu công tác TGPL tiếp tục phát triển hơn nữa để đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân. Theo kết quả tổng hợp báo cáo công tác TGPL trong toàn quốc, từ năm 1997 đến hết tháng 6/2017, đã có 2.179.792 lượt người được TGPL trong 2.113.195 vụ việc TGPL (tư vấn pháp luật là 1.913.345 vụ, chiếm 90,54%, tham gia tố tụng là 140.574 vụ, chiếm 6,65%, đại diện ngoài tố tụng là 3.921 vụ, chiếm 0,19%, còn lại là hình thức khác). Từ sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác TGPL ở Việt Nam giai đoạn 2015 - 2025, tỉ lệ vụ việc tham gia tố tụng trên tổng số vụ việc TGPL tăng lên so với năm trước, cụ thể, số vụ việc tham gia tố tụng trên tổng số vụ việc TGPL năm 2015 là 6,92%, năm 2016 là 12,16% và 06 tháng đầu năm 2017 là 21,92%. Tỉ lệ vụ việc tham gia tố tụng do trợ giúp viên pháp lý thực hiện trên tổng số vụ việc tham gia tố tụng cũng tăng theo từng năm, nếu năm 2014 tỉ lệ này là 43% thì năm 2015 là 49,32% và năm 2016 là 74,24%. Đặc biệt, Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2017 với việc mở rộng đối tượng TGPL từ 06 nhóm đối tượng được TGPL theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 lên 14 nhóm đối tượng (khoảng 40 triệu dân số thuộc diện được TGPL), vì vậy, dự kiến vụ việc TGPL trong thời gian tới sẽ tăng lên đáng kể.
Có thể khẳng định, vai trò và ý nghĩa của TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết và quan trọng. TGPL thể hiện được bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; tạo lập cơ chế bảo đảm công bằng xã hội, mọi công dân dù giàu hay nghèo đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tiếp cận dịch vụ pháp lý như nhau trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường. TGPL là một trong những hình thức đưa chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa và bảo đảm công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần hoàn thiện bộ máy nhà nước, hoàn thiện pháp luật và nâng cao trách nhiệm công vụ, đồng thời, TGPL góp phần thiết thực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; nâng cao ý thức pháp luật và trình độ dân trí để người dân biết cách tự ứng xử phù hợp với các quy định pháp luật, góp phần lành mạnh hóa quan hệ xã hội, một phần củng cố lòng tin của người dân vào Nhà nước, pháp luật, góp phần ổn định chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế. Để tăng cường nhận thức vị trí và vai trò công tác TGPL trong xã hội, trong thời gian tới cần đẩy mạnh truyền thông về Luật Trợ giúp pháp lý và hoạt động TGPL thông qua nhiều phương thức đa dạng, phù hợp với các chủ thể khác nhau trong xã hội. Đồng thời, hệ thống TGPL cần tự tăng cường năng lực của mình để đáp ứng nhu cầu TGPL kịp thời, có chất lượng - Đó là kênh truyền thông hiệu quả nhất về vị trí, vai trò TGPL trong xã hội, bởi lẽ thông thường rằng “hữu xạ tự nhiên hương”.
Trịnh Thị Thanh
Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp