Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục giải quyết việc dân sự
Sign In

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục giải quyết việc dân sự

Tóm tắt: Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự là vấn đề có ý nghĩa quan trọng về chính trị, xã hội trong điều kiện hiện nay. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân của đương sự trong giải quyết việc dân sự. Bài viết này phân tích, đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục chuẩn bị xét xử sơ thẩm tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm giải quyết việc dân sự. Abstract: Ensuring human rights and rights of citizens is a political, social important issue at present. The Civil Procedural Code of 2015 has amended and supplemented many regulations on concretizing the Constitution of 2013 with respect to better guaranty of human rights and rights of citizens of interested parties in civil case settlement. This paper analyzes, assesses regulations of the Civil Procedural Code of 2015 concerning guaranty of human rights and rights of citizens of interested parties in procedures of trial in first instance, appeal, cassation and retrial of civil cases.
1. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn chuẩn bị và phiên họp giải quyết việc dân sự
Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có bước tiến dài trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Đối với thủ tục giải quyết việc dân sự, do tính chất của việc dân sự thường đơn giản hơn so với vụ án dân sự, nên thời hạn giải quyết việc dân sự ngắn hơn thời hạn thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Việc giải quyết nhanh chóng các việc dân sự không chỉ tiết kiệm về chi phí tố tụng cho đương sự và Nhà nước mà còn góp phần bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Điểm mới quan trọng của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) là đã quy định thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu chung cho các việc dân sự là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Quy định này đã khắc phục được hạn chế của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) chỉ quy định về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu đối với một số việc dân sự[1], không quy định về thời hạn giải quyết đối với các loại việc về hôn nhân và gia đình - những việc chiếm phần lớn các việc về dân sự trong thực tế giải quyết việc dân sự tại Tòa án, dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định về thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu đối với một số loại việc dân sự đặc thù[2]. Đồng thời, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn bổ sung quy định về các công việc mà Tòa án tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu đối với các loại việc dân sự nói chung như: Yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án;  thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản nếu xét thấy cần thiết hoặc đương sự có yêu cầu; quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu. Các quy định này cho thấy quyền con người, quyền công dân của đương sự trong giải quyết việc dân sự đã được Nhà nước tôn trọng hơn.
Riêng đối với từng loại việc đặc thù, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định thêm các công việc cụ thể[3]. Đối với yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết. Đây là quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết cũng như bảo đảm cho việc giải quyết việc dân sự này được chính xác hơn. Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, trước khi tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, khi xét thấy cần thiết, thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ việc. Quy định cụ thể này đã hóa giải quan điểm thuận tình ly hôn thì không hòa giải, đồng thời bảo đảm cho việc công nhận thuận tình ly hôn được thấu tình, đạt lý.
Để đảm bảo quyền con người, quyền công dân, phiên họp được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự, trừ trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ, thì Tòa án có thể xét xử kín. Để bảo đảm cho đương sự có quyền trình bày yêu cầu và chứng cứ chứng minh yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên họp, Tòa án phải triệu tập người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy triệu tập của Tòa án. Điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là bổ sung người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong thành phần những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự. Quy định này đã giúp cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được tốt hơn. Như vậy, các quy định về phiên họp giải quyết việc dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân thông qua các quy định về xét xử công khai, bảo đảm quyền được có mặt tại phiên họp, quyền đưa ra và trình bày về yêu cầu và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Tuy nhiên, vẫn còn có một số quy định chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ tốt quyền con người và quyền công dân. Cụ thể:
Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự còn thể hiện ở việc các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về giải quyết việc dân sự. Song hiện nay, ngoại trừ việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, phạm vi những loại việc dân sự mà Tòa án có trách nhiệm hòa giải trước khi mở phiên họp giải quyết việc dân sự chưa được pháp luật quy định cụ thể. Hiện nay, các quy định về hòa giải trong tố tụng dân sự không có quy định về những việc dân sự không được hòa giải. Điều này dẫn đến sự lúng túng trong thực tiễn áp dụng khi hòa giải đối với việc dân sự. Theo tác giả, những trường hợp yêu cầu giải quyết việc dân sự liên quan đến việc xác định một sự kiện pháp lý mà việc xác định sự kiện đó chỉ liên quan đến quyền và nghĩa vụ “tư” của các đương sự thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải. Những trường hợp yêu cầu giải quyết việc dân sự liên quan đến việc xác định một sự kiện pháp lý thì Tòa án không được hòa giải.
Bảo đảm quyền con người, quyền công dân còn thể hiện thông qua các quy định về thủ tục tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết việc dân sự và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu mà không quy định riêng về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết việc dân sự. Theo nguyên tắc tại Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án có thể áp dụng tương tự các quy định tại Điều 214, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, do tính chất của vụ án dân sự khác với việc dân sự nên không phải tất cả các căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đều có thể áp dụng cho việc dân sự. Do đó, cần có điều luật riêng quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết việc dân sự.
Cũng giống như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Điều này có thể lý giải bởi thông thường các việc dân sự là việc xác định các sự kiện pháp lý hoặc các bên đương sự không có tranh chấp với nhau nên không cần thiết phải áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Song tác giả cho rằng, trong một số trường hợp đặc biệt, việc áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với giải quyết việc dân sự là cần thiết như biện pháp giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục khi giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật; biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản hoặc cấm thay đổi hiện trạng tài sản khi giải quyết các yêu cầu về thông báo tìm kiếm người vắng mặt hoặc tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết... Do đó, cần bổ sung quy định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết việc dân sự.
2. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong thủ tục triệu tập đương sự tham gia phiên họp và thủ tục tiến hành phiên họp
Các quy định về thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự, về cơ bản đã bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân của đương sự. Tuy nhiên, đối với một số loại việc đặc thù như yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi dân sự, Tòa án có phải triệu tập người bị thông báo tìm kiếm, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi dân sự hay không? Về nguyên tắc, họ là những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự nên phải được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp, bởi trước thời điểm quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật thì họ vẫn là những người có năng lực hành vi dân sự bình thường. Song, đối với người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố là mất tích hoặc đã chết là những người vắng mặt tại nơi cư trú, nên nếu Tòa án vẫn áp dụng thủ tục triệu tập họ như những trường hợp thông thường sẽ làm kéo dài thời gian giải quyết, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu. Đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi dân sự là những chủ thể mặc dù chưa bị tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi nhưng trên thực tế họ đã là người có kết luận giám định của cơ quan có thẩm quyền là mắc các bệnh dẫn đến không có hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, vì vậy, việc triệu tập họ tham gia tố tụng là không cần thiết, gây phức tạp về thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, để áp dụng thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể về những trường hợp này.
Quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự không chỉ dừng lại ở việc pháp luật quy định cho họ các quyền và nghĩa vụ tố tụng bình đẳng với nhau mà còn cần thiết quy định cho họ có các cơ hội như nhau khi tham gia vào quá trình tố tụng dân sự. Đối với việc giải quyết vụ án dân sự, Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa. Như vậy, việc có hoãn hay không hoãn phiên tòa trong trường hợp này phụ thuộc vào đánh giá của Hội đồng xét xử. Thông thường trên thực tế, nếu tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ hoặc chưa được làm rõ hoặc sự có mặt của đương sự là cần thiết cho việc giải quyết vụ án dân sự thì Hội đồng xét xử sẽ hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, đối với giải quyết việc dân sự, trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự. Có thể thấy, quy định của khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa thực sự bảo đảm quyền bình đẳng giữa đương sự trong giải quyết việc dân sự với đương sự trong giải quyết vụ án dân sự. Vì vậy, cần sửa khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự theo hướng: Trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự; trong trường hợp này, quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó theo thủ tục do Bộ luật này quy định vẫn được bảo đảm.
Ngoài ra, Bộ luật năm 2015 không quy định về quyền được đặt câu hỏi và trình bày quan điểm về giải quyết việc dân sự của đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là chưa thực sự bảo vệ quyền con người, quyền công dân của đương sự trong giải quyết việc dân sự[4]. Vì vậy, cần sửa khoản 19 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng: Đương sự có quyền đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến “vụ việc” hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng.
3. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục phúc thẩm việc dân sự
Để bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong giải quyết việc dân sự, Bộ luật năm 2015 đã ghi nhận quyền kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát đối với đa số quyết định giải quyết việc dân sự[5]. Quy định này nhằm bảo đảm cho đương sự, Viện kiểm sát có quyền được yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại quyết định giải quyết việc dân sự khi họ cho rằng quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa thỏa đáng. Mặt khác, để bảo đảm cho việc giải quyết việc dân sự được chính xác, khách quan, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thủ tục phúc thẩm việc dân sự[6]. Các quy định về thủ tục phúc thẩm việc dân sự về cơ bản đã bảo đảm được quyền con người, quyền công dân của đương sự thông qua quy định về quyền kháng cáo, thủ tục giải quyết kháng cáo đối với các quyết định giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, đối với người bị yêu cầu tuyên bố là mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích hoặc đã chết là người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc đó, nhưng do pháp luật không quy định cụ thể quyền kháng cáo của các chủ thể này dẫn đến thực tiễn các quyết định của Tòa án thường không tuyên quyền kháng cáo cho những người này làm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân của họ. Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể.
4. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm việc dân sự
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật về giải quyết vụ án dân sự có thể bị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là cơ chế hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của đương sự ngay cả khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 lại không quy định cụ thể về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với đa số các quyết định giải quyết việc dân sự. Riêng đối với việc giải quyết yêu cầu công nhận hoặc không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài có đặc trưng cơ bản là Tòa án Việt Nam không xem xét lại nội dung của vụ việc, mà chỉ kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự của Tòa án, trọng tài nước ngoài, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các quy định khác của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có liên quan để quyết định có công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án, trọng tài nước ngoài hay không. Tuy nhiên, việc giải quyết việc dân sự trong trường hợp này vẫn có thể có sai lầm hoặc có tình tiết mới xuất hiện nên Điều 443 và Điều 465 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này. Đây là điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và quyền công dân của đương sự.
Đối với việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết mà trở về hoặc người bị tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự trở lại trạng thái nhận thức bình thường thì chính Tòa án đã ra quyết định có quyền hủy quyết định của mình theo thủ tục sơ thẩm thông thường. Tác giả cho rằng, quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là hợp lý, bởi chính Tòa án đã ra quyết định là Tòa án có điều kiện tốt nhất để xem xét việc hủy quyết định giải quyết việc dân sự. Với cách quy định này có thể hiểu, quyết định giải quyết việc dân sự trong những trường hợp này không bị xem xét lại theo thủ tục tái thẩm dân sự.
Đối với việc giải quyết yêu cầu hủy quyết định trọng tài, theo quy định của các điều, từ Điều 68 đến Điều 71 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì quyết định của Tòa án về xem xét hủy quyết định trọng tài thậm chí còn không bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Như vậy, quyết định của Tòa án về xem xét hủy quyết định trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành. Song, nếu quyết định giải quyết yêu cầu hủy quyết định trọng tài đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện ra vi phạm pháp luật hoặc tình tiết mới thì có được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hay không cũng cần có hướng dẫn cụ thể.
Đối với những việc dân sự còn lại, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự. Theo nguyên tắc áp dụng pháp luật tại Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đối với các quyết định giải quyết việc dân sự đó vẫn có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm khi có kháng nghị của người có thẩm quyền. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật thì cần có hướng dẫn cụ thể về những loại việc dân sự không bị giám đốc thẩm, tái thẩm và những việc dân sự còn lại có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự theo nguyên tắc áp dụng pháp luật tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
TS. Bùi Thị Huyền
Đại học Luật Hà Nội
Tài liệu tham khảo:
[1]. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) chỉ quy định về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết, tuyên bố một người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự của cá nhân là 20 ngày hoặc 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu.
[2]. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thời hạn chuẩn bị giải quyết đơn yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu. Thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là 10 ngày, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được thực hiện theo quy định của Luật Trọng tài thương mại. Đây là những loại việc đặc thù, cần phải giải quyết nhanh nên quy định về thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự như nêu trên là hợp lý.
[3]. Chẳng hạn, đối với yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo đề nghị của người yêu cầu, Tòa án có thể trưng cầu giám định sức khỏe, bệnh tật của người bị yêu cầu tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc giám định pháp y tâm thần đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong trường hợp này, khi nhận được kết luận giám định, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu. Đối với yêu cầu tuyên bố một người mất tích, trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.
[4]. Khoản 19 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định đương sự có quyền đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến “vụ án” hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác, được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng.
[5]. Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[6]. Từ Điều 373 đến Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
 
Liên kết website