Bộ Tư pháp đạt được nhiều kết quả trong công tác Quý I/2018
Sign In

Bộ Tư pháp đạt được nhiều kết quả trong công tác Quý I/2018

Trong quý I/2018, Bộ, Ngành Tư pháp đã bám sát Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018, tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm thuộc chức năng, nhiệm vụ, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ.
1. Kết quả công tác quý I/2018
1.1. Về công tác xây dựng đề án, văn bản; thẩm định, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Bộ Tư pháp đã xây dựng, trình 02/02 văn bản là: Đề nghị của Chính phủ về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018 và Kế hoạch thực hiện hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật kỳ 2014 - 2018 thống nhất trong cả nước; thẩm định 34 dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, 07 đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong đó có một số dự án luật, dự thảo nghị quyết quan trọng như: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật sửa đổi, bổ sung một số luật có quy định liên quan đến quy hoạch; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học; Nghị quyết của Quốc hội về thành lập 03 đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc...; đã kiểm tra 640 văn bản của các bộ, ngành, địa phương; bước đầu phát hiện 20 văn bản trái pháp luật về nội dung.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ đôn đốc ban hành văn bản quy định chi tiết. Kết quả: Đối với 61 văn bản quy định chi tiết 14 luật đã có hiệu lực, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã ban hành được 43/61 văn bản. Riêng Bộ Tư pháp đến nay không nợ văn bản quy định chi tiết.
1.2. Công tác thi hành án dân sự
Tính đến hết 28/02/2018 (05 tháng theo kỳ báo cáo), các cơ quan thi hành án dân sự đã thi hành xong 186.883 việc trong tổng số 409.447 việc có điều kiện thi hành, đạt tỉ lệ 45,64%; tăng 10.929 việc (0,74%) so với cùng kỳ năm 2017; với số tiền thi hành xong là hơn 9000 tỷ. Tổ chức theo dõi, đôn đốc thi hành xong 29/85 vụ việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính còn tồn đọng. Bộ cũng đã phối hợp, tham gia Đoàn giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội về thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính tại 10 tỉnh, thành phố là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Tiền Giang và Đồng Tháp; chuẩn bị sơ kết công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính 06 tháng đầu năm 2018.
1.3. Công tác hộ tịch, quốc tịch, nuôi con nuôi
Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tổ chức đánh giá tình hình triển khai thực hiện Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch; tiếp tục mở rộng áp dụng phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch cho các tỉnh Bắc Kạn, Bình Định, Bình Thuận, Cà Mau và Gia Lai; tham mưu, trình Chủ tịch nước giải quyết gần 1.300 hồ sơ xin thôi, xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam; xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch; giải quyết 105 hồ sơ xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, trong đó có 78 trường hợp trẻ em khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo; tiếp tục xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi.
1.4. Về lý lịch tư pháp, đăng ký giao dịch bảo đảm, bồi thường nhà nước
Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thuộc Bộ Tư pháp đã cấp 810 phiếu lý lịch tư pháp, với 100% các trường hợp cấp phiếu đúng hoặc sớm hơn thời hạn theo quy định của Luật; tiếp tục phối hợp với Cục Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát, Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an tra cứu, xác minh thông tin án tích cho 24.684 hồ sơ, qua đó góp phần rút ngắn hơn thời gian giải quyết thủ tục hành chính tại các Sở Tư pháp. Các trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm đã giải quyết 205.419 đơn yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm và văn bản yêu cầu thông báo về việc thế chấp phương tiện giao thông (tăng khoảng 15% so với cùng kỳ năm 2017); tiếp nhận và cấp mới tài khoản đăng ký trực tuyến cho khoảng 50 tổ chức tín dụng. Bộ đã trình Chính phủ Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi); tiếp nhận mới và xử lý đối với 05 trường hợp của cơ quan, tổ chức có yêu cầu hướng dẫn giải quyết bồi thường và đã ban hành 04 văn bản hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết bồi thường đối với các trường hợp này; thực hiện việc cung cấp thông tin, hỗ trợ việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường cho 05 trường hợp.
1.5. Công tác bổ trợ tư pháp
Bộ đã ban hành Thông tư số 02/2018/TT-BTP ngày 26/02/2018 hướng dẫn sử dụng một số biểu mẫu về tổ chức và hoạt động hòa giải thương mại; phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký quy chế phối hợp liên ngành trong công tác giám định tư pháp (Quy chế số 992/QCPH-BTP-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/3/2018); tiếp tục phối hợp với Văn phòng Chính phủ hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư, dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại; tiếp tục triển khai Đề án thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam.
Bộ Tư pháp đã cấp 243 chứng chỉ hành nghề luật sư; 04 giấy phép hành nghề tại Việt Nam cho luật sư nước ngoài; bổ nhiệm 44 công chứng viên; miễn nhiệm công chứng viên đối với 02 trường hợp; cấp 35 chứng chỉ hành nghề đấu giá; cấp 37 chứng chỉ hành nghề quản tài viên; bổ nhiệm 24 thừa phát lại.
1.6. Công tác pháp luật quốc tế và hợp tác quốc tế
Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 504/QĐ-BTP ngày 26/3/2018 về việc thẩm định điều ước quốc tế; tham gia xây dựng phương án đàm phán, đàm phán và kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); chủ trì tổ chức Vòng đàm phán thứ nhất Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Việt Nam và Hungary; phối hợp với các bộ, cơ quan, đơn vị có liên quan để thực hiện giải quyết 04 vụ tranh chấp, vụ kiện quốc tế. Bộ đã cấp 05 ý kiến pháp lý, chủ trì thẩm định 09 điều ước quốc tế, góp ý 83 điều ước quốc tế; tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp với các đối tác truyền thống, láng giềng, trong đó có việc phối hợp với Bộ Tư pháp Lào khởi động Dự án ODA hỗ trợ Học viện Tư pháp quốc gia Lào. 
1.7. Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính
Bộ đã ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2018; hoàn thành việc chấm điểm chỉ số cải cách hành chính năm 2017 gửi Bộ Nội vụ. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ đã rà soát, đề xuất đơn giản, cắt giảm hoặc bãi bỏ 43/98 điều kiện kinh doanh thuộc 07 ngành, nghề trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, đạt tỷ lệ 44%. Bộ cũng đã có ý kiến đối với 71 thủ tục hành chính tại 18 đề nghị xây dựng và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (gồm 06 luật, 09 nghị định, 01 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 02 thông tư) do các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo; trong đó, đã đề nghị sửa đổi 57 thủ tục không hợp lý (chiếm tỷ lệ 80,28 % tổng số thủ tục hành chính quy định tại các đề nghị xây dựng và dự án, dự thảo văn bản).
1.8. Về trả lời kiến nghị cử tri; tiếp nhận, trả lời phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp; tiếp công dân và thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao
Bộ đã trả lời đúng hạn tất cả 49 kiến nghị gửi đến Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV (trong và sau kỳ họp qua đợt tiếp xúc cử tri); giải quyết 22/22 kiến nghị (16 kiến nghị của người dân và 06 kiến nghị của doanh nghiệp); tiếp 80 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo (giảm 18% so với cùng kỳ năm 2017). Bên cạnh đó, Lãnh đạo Bộ đã tổ chức 02 buổi tiếp công dân định kỳ với 04 lượt công dân được tiếp. Bộ cũng hoàn thành đúng hạn 100% các nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao trong quý I/2018.
2. Giải quyết những vấn đề báo chí phản ánh liên quan đến hoạt động của Bộ, Ngành Tư pháp
2.1. Tình hình kiểm tra, xử lý Thông tư số 32/2016/TT-NHNN ngày 26/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp đã tiến hành kiểm tra theo thẩm quyền Thông tư số 32/2016/TT-NHNN ngày 26/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức nhiều cuộc họp để trao đổi, thảo luận với các cơ quan, đơn vị liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học; trên cơ sở đó có kết luận về tính hợp pháp của một số quy định tại khoản 6 Điều 1 và điểm c khoản 2 Điều 4 của Thông tư này (Kết luận kiểm tra số 05/KL-KTrVB của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật).
Ngày 12/02/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 02/2018/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 32/2016/TT-NHNN. Tuy nhiên, Thông tư số 02/2018/TT-NHNN chưa xử lý các nội dung theo kiến nghị tại Kết luận kiểm tra số 05/KL-KTrVB mà chỉ sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 32/2016/TT-NHNN, theo đó, kéo dài thời hạn chuyển đổi thêm 02 năm đối với các tài khoản thanh toán của tổ chức không có tư cách pháp nhân đã mở trước ngày Thông tư số 32/2016/TT-NHNN có hiệu lực (ngày 01/3/2017) sang hình thức tài khoản thanh toán của cá nhân hoặc tài khoản thanh toán chung hoặc đóng tài khoản. 
Ngày 27/02/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có Công văn số 1187/NHNN-PC gửi Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp, theo đó, tiếp tục giữ quan điểm cho rằng quy định tại khoản 6 Điều 1 và điểm c khoản 2 Điều 4 của Thông tư là hợp pháp và không tiếp thu các kiến nghị tại Kết luận kiểm tra 05/KL-KTrVB.
Hiện nay, trên cơ sở kết quả kiểm tra và ý kiến của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp đang đề xuất Lãnh đạo Bộ Tư  pháp báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ theo quy định.
2.2. Về việc tiếp tục triển khai cấp phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến
Thực hiện Quyết định số 19/QĐ-TTg ngày 08/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm cấp phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, Bộ Tư pháp đã phối hợp với một số bộ, ngành và các địa phương có liên quan tổ chức tổng kết 03 năm thực hiện Đề án này. Kết quả  tổng kết cho thấy, qua 03 năm triển khai thực hiện Đề án 19, đến ngày 31/10/2017, cả nước có 60/63 Sở Tư pháp triển khai phương thức cấp phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính và giải quyết hơn 300.000 trường hợp cấp phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ này; có 51/63 Sở Tư pháp triển khai phương thức đăng ký cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến kết hợp dịch vụ cấp phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu điện và đã tiếp nhận, xử lý hơn 80.000 trường hợp.
Nhìn chung, việc triển khai Đề án 19 là phù hợp với chủ trương của Đảng, Chính phủ về đơn giản hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính và đẩy mạnh việc cung cấp các dịch vụ công rõ ràng, minh bạch, thuận lợi cho người dân; giúp tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí đi lại của công dân và cả người nước ngoài yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp. Việc cấp phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến được cơ quan, tổ chức, cá nhân hài lòng, đánh giá cao. Đối với cơ quan có thẩm quyền cấp phiếu lý lịch tư pháp, việc triển khai Đề án 19 giúp giảm áp lực tiếp nhận hồ sơ hành chính tại bộ phận một cửa, nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết công việc, hướng tới sự phục vụ người dân ngày một tốt hơn.
Trên cơ sở kết quả tổng kết, Bộ Tư pháp sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tiếp tục thực hiện triển khai cấp phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. Đồng thời với việc cấp phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, việc cấp phiếu lý lịch tư pháp với hình thức nộp hồ sơ trực tiếp vẫn được thực hiện bình thường, tùy theo nhu cầu của người dân.
2.3. Về vi bằng do thừa phát lại lập
Hiện nay, trên thực tế có hiện tượng hiểu chưa đúng và chưa thống nhất về vi bằng và giá trị pháp lý của vi bằng do thừa phát lại lập. Để dư luận, người dân hiểu đúng và thống nhất về vi bằng, giá trị pháp lý của vi bằng do thừa phát lại lập, Bộ Tư pháp đã cung cấp thêm thông tin để người dân hiểu rõ hơn, cụ thể như sau:
- Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại TP. Hồ Chí Minh và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP có quy định về khái niệm, thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng; thủ tục lập vi bằng; hình thức và nội dung chủ yếu của vi bằng; giá trị pháp lý của vi bằng do thừa phát lại lập... Cụ thể như sau:
+ Về khái niệm: Vi bằng là văn bản do thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác.
+ Về thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng: Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ các trường hợp quy định tại Điều 6 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP; các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng; vi phạm bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Dân sự; các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại được lập vi bằng các sự kiện, hành vi xảy ra trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt Văn phòng thừa phát lại.
+ Về giá trị pháp lý: Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án; là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
- Vi bằng không phải văn bản công chứng[1], chứng thực[2]; không có giá trị thay thế văn bản công chứng, chứng thực. Việc chuyển quyền sử dụng đất, nhà ở phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở và pháp luật về công chứng, chứng thực.
Vinh Nguyễn
 
[1] Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật công chứng; Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác. Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.
 
[2] Văn bản chứng thực là giấy tờ, văn bản, hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực theo quy định của pháp luật. Bản sao được cấp từ sổ gốc có giá trị sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Bản sao được chứng thực từ bản chính theo quy định tại Nghị định này có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Chữ ký được chứng thực theo quy định tại Nghị định này có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản. Hợp đồng, giao dịch được chứng thực theo quy định của Nghị định này có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.