Một số vấn đề trong thực tiễn áp dụng pháp luật về ủy thác thu thập chứng cứ
Sign In

Một số vấn đề trong thực tiễn áp dụng pháp luật về ủy thác thu thập chứng cứ

1. Yêu cầu đối với việc ủy thác thu thập chứng cứ
1.1. Phân biệt ủy thác thu thập chứng cứ với ủy thác tống đạt văn bản tố tụng
Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, Tòa án có quyền ủy thác cho Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền lấy lời khai của đương sự, lấy lời khai người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự. Trong đó, đối với các biện pháp đã được liệt kê là rõ ràng nên các Tòa án áp dụng thống nhất, nhưng đối với “các biện pháp khác” thì lại có ý kiến khác nhau. Đây là một quy định dự phòng trường hợp thực tiễn xét xử của Tòa án có những biện pháp thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự ngoài các biện pháp được nêu. Các biện pháp khác cũng phải là những biện pháp nhằm để thu thập chứng cứ hoặc xác minh các tình tiết vụ việc dân sự. Như vậy, thực chất các biện pháp mà luật quy định dự phòng là những hoạt động thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự. Quy định này là cần thiết, bởi lẽ, ngoài các biện pháp ủy thác chứng cứ đã được liệt kê, thực tiễn xét xử, thẩm phán còn sử dụng nhiều biện pháp khác để ủy thác thu thập chứng cứ như: Xác minh, ghi nhận tập quán ở địa phương, đối chất giữa người làm chứng với các đương sự trong trường hợp người làm chứng không thể đến Tòa án. Quy định dự phòng giúp pháp luật bao quát hết các biện pháp thu thập chứng cứ trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án trong lãnh thổ Việt Nam, các biện pháp thu thập chứng cứ tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và dự liệu cả trường hợp ủy thác thu thập chứng cứ với các quốc gia khác theo nguyên tắc có đi có lại.
Hiện nay, có hai cách hiểu khác nhau về các biện pháp khác theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. (i) Là các biện pháp nhằm tìm ra các chứng cứ các tình tiết để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có cơ sở, là hợp pháp hoặc không có cơ sở, không hợp pháp và bản chất của các biện pháp này là tìm ra chứng cứ làm sáng tỏ nội dung của vụ việc dân sự. Đây là quy định dự liệu trường hợp luật không bao quát hết các biện pháp ủy thác thu thập chứng cứ mà Tòa án Việt Nam áp dụng trong thực tiễn, dự liệu cả trường hợp luật nước ngoài quy định mà nước đó với Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này và đồng thời dự liệu trường hợp pháp luật của các nước áp dụng nguyên tắc có đi có lại có các biện pháp thu thập chứng cứ ngoài các biện pháp đã liệt kê trong luật; (ii) Bao gồm cả các biện pháp thu thập chứng cứ mà luật chưa dự liệu hết và kể cả các hoạt động tố tụng khác nhằm giúp cho hoạt động xét xử của Tòa án như tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định thẩm định tại chỗ, quyết định định giá tài sản...
Thực tiễn xét xử, nhiều Tòa án đã đồng nhất việc ủy thác thu thập chứng cứ với ủy thác tống đạt văn bản tố tụng và xem hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng như là một phần của ủy thác thu thập chứng cứ, hay nói cách khác, các Tòa án xem hoạt động tống đạt văn bản tố tụng là "biện pháp khác" quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Theo tác giả, hoạt động tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án không phải là hoạt động thu thập chứng cứ. Bởi lẽ, chứng cứ là những gì có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án tự thu thập theo trình tự, thủ tục luật định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự là có căn cứ và hợp pháp[1]. Trong khi đó, việc ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng là việc Tòa án thông báo cho đương sự, người làm chứng... biết về hoạt động tố tụng của Tòa án để họ biết tham gia vào hoạt động tố tụng mà Tòa án đã thông báo và kết quả của hoạt động này là để chứng minh Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, do đó, chúng không phải là căn cứ để Tòa án chấp nhận yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của đương sự hay nói cách khác kết quả của ủy thác tống đạt văn bản tố tụng không làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Ngoài ra, hoạt động tống đạt các văn bản tố tụng không phải chỉ ủy thác một lần có kết quả là giải quyết được vụ án mà còn phải tống đạt hợp lệ nhiều lần mới đưa vụ án ra xét xử được. Chẳng hạn, tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử hai lần thì Tòa án mới có quyền giải quyết vụ án nếu đương sự vắng tại phiên tòa. Trong khi hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ nếu không nhận được kết quả trả lời thì chỉ cần ủy thác một lần là Tòa án đã giải quyết được vụ án[2]. Do đó, hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng không phải là hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ.
Tuy nhiên, vấn đề là, các Tòa án có hiểu hoạt động tống đạt văn bản tố tụng là hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ hay không rất khó xác định, nhưng có thể khẳng định đây là một cách thức để hoạt động xét xử của Tòa án nhanh chóng, thuận lợi. Hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng là một nhu cầu của thực tiễn. Các Tòa án khi cần tống đạt các văn bản tố tụng ở ngoài địa giới hành chính do mình quản lý thì cách thuận lợi nhất và nhanh nhất là ủy thác cho Tòa án nơi có đương sự cần triệu tập, cần thông báo. Nhu cầu ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án thực tế cao hơn so với hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ. Ngoài ra, khi tống đạt các văn bản tố tụng, pháp luật quy định phải tống đạt đủ số lần, hợp lệ thì Tòa án mới giải quyết vụ án trong trường hợp đương sự vắng mặt, nếu không tống đạt đầy đủ và hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là căn cứ để Tòa án cấp trên hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới.
Từ thực tiễn trên, Tòa án nhân dân tối cao nên có công văn hướng dẫn cho Tòa án nhân dân các cấp hiểu thống nhất theo hướng các biện pháp khác quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là các biện pháp thu thập chứng cứ nhằm chấp nhận, bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ngoài ra, theo tác giả, luật nên ghi nhận hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng để có cơ sở pháp lý và thích ứng với thực tiễn. Hiện nay, khi luật chưa được sửa đổi thì Tòa án nhân dân tối cao nên có công văn hướng dẫn cụ thể hoạt động phối hợp tống đạt các văn bản tố tụng giữa các Tòa án để hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng đạt hiệu quả và có giá trị pháp lý trong thực tiễn.
1.2. Xác định Tòa án nhận ủy thác thu thập chứng cứ
Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, Tòa án giải quyết vụ việc dân sự có thể ra quyết định ủy thác cho Tòa án khác thực hiện yêu cầu ủy thác. Như vậy, chủ thể nhận ủy thác là Tòa án nhân dân. Đối với hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ bên trong lãnh thổ Việt Nam thì chủ thể nhận ủy thác thu thập chứng cứ là Tòa án nơi được ủy thác. Tòa án ủy thác có quyền ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cả Tòa án nhân dân cấp cao. Vấn đề đặt ra là, Tòa án nhân dân cấp dưới có quyền ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân cấp trên và ngược lại hay không? Luật không quy định cụ thể, rõ ràng về vấn đề này nên đã có những quan điểm khác nhau. Theo đó, có quan điểm cho rằng: “Mặc dù luật không quy định cụ thể nhưng theo chúng tôi việc ủy thác thu thập chứng cứ chỉ có thể thực hiện bởi Tòa án cùng cấp (Tòa án cấp huyện này với Tòa án cấp huyện khác, Tòa án cấp tỉnh này với Tòa án cấp tỉnh khác)”[3].
Trong thực tiễn, các Tòa án dù cấp tỉnh hay cấp huyện đều chỉ ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp huyện. Điều này là do Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có chứng cứ cần thu thập sẽ thực hiện việc ủy thác một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất, thuận tiện nhất các yêu cầu ủy thác. Tác giả chưa biết có trường hợp nào mà Tòa án nhân dân cấp huyện ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Theo tác giả, hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng nhằm tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho các Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự nhưng nó cũng tạo điều kiện thuận lợi nhất để Tòa án nhận ủy thác hoàn thành việc ủy thác, do đó, nên ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của đương sự, nơi có chứng cứ cần thu thập, nơi có tình tiết sự kiệc cần xác minh. Bên cạnh đó, việc ủy thác cũng nên tiến hành theo nguyên tắc ngang cấp hoặc thấp hơn để không hạn chế quyền ủy thác của Tòa án. Theo thác giả, Tòa án cấp tỉnh có quyền ủy thác cho Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện, còn Tòa án cấp huyện chỉ có quyền ủy thác cho Tòa án cấp huyện nơi cần ủy thác.
Một vấn đề khác, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh đó hay không? Hiện nay có hai quan điểm khác nhau: (i) Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh vì không có quy định nào cấm việc ủy thác trên, hơn nữa, Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ thuận lợi hơn trong hoạt động thu thập chứng cứ; (ii) Tòa án nhân dân cấp tỉnh không được ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh, vì Tòa án chỉ có quyền ủy thác cho Tòa án khác thu thập chứng cứ khi chứng cứ cần thu thập ở ngoài phạm vi lãnh thổ, địa giới do mình quản lý, như vậy, chứng cứ cần thu thập trong trường hợp này nằm trong địa giới hành chính của Tòa án ủy thác nên không được quyền ủy thác thu thập chứng cứ. Những người theo quan điểm (ii) cho rằng, về nguyên tắc, mỗi đơn vị Tòa án chỉ có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi địa giới hành chính huyện, tỉnh đã được xác định. Điều này có nghĩa là, mỗi đơn vị Tòa án không được phép tiến hành các hoạt động ngoài địa giới hành chính mà mình đã được xác định thẩm quyền theo lãnh thổ[4]. Tác giả thống nhất với quan điểm (ii).
Từ những phân tích trên, khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên sửa đổi theo hướng: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án nhân dân ngang cấp hoặc cấp thấp hơn ngoài địa giới hành chính do mình quản lý hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự”rõ ràng và được hiểu thống nhất.
1.3. Xác định chi phí khi thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ
Thứ nhất, chi phí khi thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam
Chi phí ủy thác thu thập chứng cứ là chi phí để Tòa án nhận ủy thác thực hiện các công việc ủy thác như là lấy lời khai đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự. Hiện nay, pháp luật chưa có quy định về chi phí ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam nên các Tòa án khi ủy thác thu thập chứng cứ không thu chi phí từ các đương sự. Vậy, câu hỏi đặt ra là có cần thu chi phí ủy thác thu thập chứng cứ từ các đương sự hay không? Quan điểm thứ nhất cho rằng, các đương sự không phải chịu chi phí ủy thác. Bởi lẽ, đây là trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết phải thu thập thêm chứng cứ mới giải quyết toàn diện vụ án. Do đó, việc ủy thác thu thập chứng cứ là trách nhiệm của Tòa án. Nhưng theo quan điểm thứ hai thì các đương sự phải có nghĩa vụ chứng minh, việc Tòa án ủy thác thu thập chứng cứ là làm thay cho đương sự để hỗ trợ đương sự thuận lợi trong việc thu thập thu thập chứng cứ, do đó, đương sự phải chịu chi phí ủy thác thu thập chứng cứ.
Việc thu chi phí từ các đương sự sẽ giúp Tòa án nhận ủy thác có chi phí thực hiện yêu cầu ủy thác và sẽ kích thích được sự tích cực trong thực hiện những công việc ủy thác của Tòa án nhận ủy thác, góp phần làm cho việc ủy thác được thực hiện nhanh chóng, đúng quy định của pháp luật. [5].  Thực tiễn, Tòa án nhận ủy thác thường kết hợp công việc của Tòa với công việc ủy thác, khi nào có công việc ở nơi được ủy thác thì kết hợp làm để giảm chi phí ủy thác. Do nhiều Tòa án không chủ động thực hiện việc ủy thác nên thời gian ủy thác bị vi phạm.
Chính vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành nghị quyết hướng dẫn theo hướng: Quy định chi phí ủy thác thu thập chứng cứ là chi phí thực tế thực hiện công việc ủy thác gồm chi phí đi lại tống đạt văn bản tố tụng phục vụ cho việc thực hiện yêu cầu ủy thác, đi lại thực hiện công việc ủy thác; chi phí tổ chức thực hiện công việc ủy thác, chi phí trả cho những người trong hội đồng thẩm định tại chỗ, hội đồng định giá, chi phí khác có liên quan đến việc thực hiện yêu cầu ủy thác. Đối với việc thu chi chi phí ủy thác thu thập chứng cứ thì giải pháp trước mắt phải thực hiện là: Khi Tòa án được ủy thác nhận được yêu cầu ủy thác thì thông báo cho Tòa án ủy thác là đã nhận được ủy thác và thông báo số tiền tạm ứng chi phí ủy thác. Tòa án ủy thác sẽ thu từ nguyên đơn, người yêu cầu và chuyển cho Tòa án nhận ủy thác thông qua tài khoản ngân hàng. Sau khi thực hiện ủy thác xong, Tòa án nhận ủy thác trả kết quả và gửi kèm theo bảng thanh toán, chứng từ chi phí ủy thác cho Tòa án ủy thác để đối chiếu với đương sự. Trường hợp tạm ứng lệ phí thừa thì Tòa án nhận ủy thác hoàn cho Tòa án ủy thác thông qua tài khoản ngân hàng; thiếu thì đương sự tiếp tục nộp cho Tòa án ủy thác để chuyển cho Tòa án nhận ủy thác. Biện pháp lâu dài, phải dự trù nguồn kinh phí ủy thác cho Tòa án hàng năm để Tòa án chủ động hoạt động. Trong quá trình giải quyết vụ án nếu phát sinh ủy thác thu thập chứng cứ thì Tòa án sẽ tuyên án buộc các đương sự nộp vào ngân sách nhà nước, để việc thu chi được rõ ràng, minh bạch.
Thứ hai, chi phí ủy thác thu thập chứng cứ ra nước ngoài
Đối với chi phí ủy thác tư pháp về dân sự, trong thời gian qua, do pháp luật không quy định rõ ràng chi phí ủy thác thu thập chứng cứ, các khoản thu chi cụ thể, cách thức thu, thanh toán các chi phí ủy thác nên Tòa án yêu cầu ủy thác không thu chi phí ủy thác mà chỉ thu lệ phícòn chi phí dịch ra ngôn ngữ nước ngoài thì Tòa án yêu cầu đương sự đến liên hệ trực tiếp Văn phòng công chứng hoặc Phòng Tư pháp cấp huyện để được dịch ra ngôn ngữ cần dịch và trực tiếp nộp tiền chi phí dịch thuật theo yêu cầu của các cơ quan, tổ chức trên. Theo đánh giá của Tòa án nhân dân tối cao về kết quả công tác tương trợ tư pháp năm 2015, việc không quy định rõ cơ chế thu nộp chi phí ủy thác đối với hoạt động ủy thác ở nước ngoài là một nguyên nhân để hoạt động này không có kết quả cao trong thực tiễn[6].
Nhằm khắc phục tình trạng trên, Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao ban hành Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT BTP-BNG-TANDTC[8] có quy định cụ thể chi phí thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ về dân sự của Việt Nam ra nước ngoài bao gồm phí, lệ phí và chi phí thực tế theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc gia được ủy thác[9]. Quy định này giúp cho hoạt động thu, nộp chi phí ủy thác thu thập chứng cứ ra nước ngoài có căn cứ, dễ dàng thực hiện. Các đương sự biết được các khoản chi phí họ phải nộp, Tòa án cũng có căn cứ để thông báo cho các đương sự nộp chi phí ủy thác. Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC có quy định cách thức thu, nộp chi phí thực tế ủy thác tư pháp, cụ thể: Chi phí thực tế trong nước do người có nghĩa vụ nộp thanh toán trực tiếp cho người cung cấp dịch vụ. Chi phí thực tế do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thì phân làm hai trường hợp. Trường hợp 1, chi phí thực tế xác định được trước theo quy định của pháp luật nước ngoài thì người có nghĩa vụ nộp chi phí phải thanh toán trực tiếp với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phù hợp quy định của pháp luật Việt Nam[10]. Trường hợp 2, chi phí thực tế chưa xác định hoặc đã xác định được nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chưa yêu cầu nộp thì người có nghĩa vụ nộp phải nộp tạm ứng 3.000.000 đồng tại cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh. Ngoài ra, Thông tư liên tịch này còn quy định về cách thức chi, thanh toán chi phí ủy thác trong trường hợp 2[11]. Quy định như vậy đảm bảo cho việc thu và nộp chi phí sẽ được áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, trong trường hợp 1, quy định cho đương sự trực tiếp nộp tiền cho cơ quan có thẩm quyền nước ngoài là gây khó khăn cho đương sự. Bởi lẽ, Tòa án của Việt Nam khi liên hệ với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã không liên hệ trực tiếp mà phải thông qua các cơ quan trung ương của hai nước thì người dân liên hệ trực tiếp để thanh toán chi phí ủy thác sẽ rất khó khăn. Hơn nữa, các chi phí này sẽ được Tòa án quyết định ai phải chịu trong bản án nên cần phải thông qua cơ quan có thẩm quyền để xác định chính xác số tiền đương sự phải nộp và phải có chứng cứ đương sự đã nộp để Tòa án có cơ sở quyết định trong bản án, quyết định. Bên cạnh đó, cùng là thu, nộp số tiền ủy thác thu thập chứng cứ ra nước ngoài nhưng pháp luật lại quy định hai cách thu nộp khác nhau là không phù hợp.
Từ những phân tích trên, theo tác giả, cần sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch
2. Nội dung và hình thức của quyết định ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam
2.1. Nội dung của quyết định ủy thác thu thập chứng cứ
Khoản 2 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án ủy thác yêu cầu Tòa án nhận ủy thác thực hiện. Quy định này đã giúp cho Tòa án trong cả nước cơ bản ghi thống nhất nội dung trong quyết định ủy thác thu thập chứng cứ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là những nội dung đã quy định có phải là cơ bản? Tòa án có quyền thêm những nội dung khác khi xét thấy cần thiết hay Tòa án chỉ được quyền ghi các nội dung theo quy định pháp luật? Quan điểm thứ nhất cho rằng, quy định của pháp luật là bắt buộc không ai có quyền thêm bớt. Vì luật đã quy định rõ ràng, đầy đủ và có mẫu hướng dẫn nên các Tòa án khi ra quyết định ủy thác chỉ được phép ghi những nội dung được ghi nhận trong luật. Ngược lại, theo quan điểm thứ hai thì những nội dung quy định trong luật chỉ là nội dung bắt buộc phải có trong các quyết định ủy thác, còn tùy vào trường hợp, vụ việc cụ thể, Tòa án có thể ghi thêm những nội dung khác để làm rõ hơn yêu cầu ủy thác. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Vì luật không thể dự liệu hết các tình huống xảy ra trong thực tế nên quy định của pháp luật chỉ khái quát nội dung mà các quyết định cần phải có, còn các nội dung khác thì tùy theo thực tế cần làm rõ những vấn đề gì chúng ta thêm vào để Tòa án nhận ủy thác hiểu và thực hiện dễ dàng yêu cầu ủy thác. Trong thực tiễn, đối với nội dung của vụ án (tóm tắt nội dung vụ án) thì có Tòa ghi và có Tòa lại không ghi vào quyết định ủy thác, làm cho việc áp dụng pháp luật không được thống nhất.
Về việc ghi tên, địa chỉ của người tham gia tố tụng, quy định tại khoản 2 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như trên là chưa đầy đủ, vì trong nhiều vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Nếu không ghi họ tên, địa chỉ của họ thì Tòa án nhận ủy thác căn cứ vào địa chỉ nào để thực hiện các yêu cầu ủy thác. Mặc dù vậy, về việc ghi họ tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay người làm chứng thì các Tòa án đều thống nhất là ghi vào trong quyết định ủy thác (nếu có họ tham gia).
Theo tác giả, việc ghi tóm tắt nội dung vụ án vào trong các quyết định ủy thác làm cho các yêu cầu ủy thác rõ ràng, dễ hiểu và cũng hạn chế tình trạng Tòa án nhận ủy thác không biết thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ cần tập trung trọng tâm vào vấn đề gì. Ngoài ra, nội dung ủy thác cần được ghi nhận ở phần nào cũng cần phải hướng dẫn, vì có Tòa án ghi trước yêu cầu ủy thác, nhưng cũng có trường hợp ghi tại phần yêu cầu ủy thác thu thập chứng cứ.
Vì vậy, khoản 2 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự nên sửa đổi theo hướng: “Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng (nếu có), tóm tắt nội dung vụ án, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ”.
2.2. Hình thức của quyết định ủy thác thu thập chứng cứ

Về hình thức của quyết định ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam đã có mẫu hướng dẫn thống nhất là Mẫu số 13-DS được ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP[12]. Tại mẫu này không có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, không có nội dung vụ việc dân sự. Về cơ bản, Mẫu số 13-DS vẫn chưa thay đổi so với Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP[13]. Như vậy, hướng dẫn này sẽ không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
Việc ghi tóm tắt nội dung vụ án vào quyết định ủy thác là cần thiết, nhưng ghi vào vị trí nào thì các Tòa án lại có thứ tự sắp xếp khác nhau: Có Tòa thì ghi kế tiếp sau khi ghi tên, địa chỉ của người tham gia tố tụng; Tòa khác thì lại ghi tại phần quyết định, sau mục yêu cầu các công việc cần ủy thác... Theo tác giả, nên ghi nội dung vụ án vào kế tiếp sau phần ghi những người tham gia tố tụng. Bởi vì, việc ghi nội dung như trên sẽ giúp cho trình tự ghi các nội dung của quyết định ủy thác liền mạch, dễ hiểu, hợp lý và chặt chẽ, không dài dòng, thể hiện được tính nghiêm trang của một văn bản tố tụng. Tòa án nhận ủy thác sẽ nắm được toàn bộ nội dung vụ việc trước khi xem xét đến yêu cầu ủy thác, giúp cho Tòa án nhận ủy thác định hướng được đầy đủ, đúng đắn các công việc cụ thể cần thực hiện đối với yêu cầu ủy thác. Khi đó,
Lý Văn Toán
Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang
Đặng Minh Trung
Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
 
[1] Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Khoản 5 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, tr. 108.
[4] Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp (2015), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, tr. 108.
[5] Nguyễn Minh Hằng (2015), “Bình luận phần chứng minh và chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 142.
[6] Thông báo số 271/TANDTC-HTQT ngày 19/10/2015 của Tòa án nhân dân tối cao về kết quả thực hiện công tác tương trợ tư pháp năm 2015.
[7] Ngày 19/10/2016 quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự.
[8] Ngày 15/9/2011 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp.
[9] Khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC.
[10] Điểm a khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC.
[11] Điều 8 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC.
[12] Nghị quyết ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối vao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự.
[13] Nghị quyết ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định về “chứng cứ và chứng minh” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.