Thực tiễn thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình - Một số kiến nghị hoàn thiện
Sign In

Thực tiễn thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình - Một số kiến nghị hoàn thiện

Bài viết này đề cập đến những kết quả đạt được và phân tích một số khó khăn, vướng mắc cần giải quyết sau 03 năm triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2014 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Từ đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác hòa giải ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
Luật Hòa giải ở cơ sở (gọi tắt là Luật) được Quốc hội thông qua năm 2013 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014, qua 03 năm triển khai thực hiện Luật trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã đạt được những kết quả đáng khích lệ: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân đã ban hành 02 văn bản quy phạm pháp luật quy định nội dung chi, mức chi cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; công tác hòa giải ở cơ sở; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Luật; Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Luật trong kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm. Việc triển khai Luật còn được lồng ghép trong các chương trình, kế hoạch của các ban chỉ đạo về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh. Ngoài ra, Sở Tư pháp đã ban hành 27 văn bản hướng dẫn thực hiện Luật và phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho tổ trưởng tổ hòa giải và hòa giải viên, tăng cường đôn đốc các cơ quan liên quan, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo thực hiện tốt công tác hoà giải ở cơ sở. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố cũng đã ban hành các kế hoạch triển khai thực hiện Luật và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện tại địa phương mình.
Qua 03 năm triển khai Luật, toàn tỉnh đã tổ chức được 304 hội nghị, lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho hòa giải viên, đã phát 20.564 chương trình phổ biến giáo dục pháp luật trên đài phát thanh của xã và tuyên truyền 38.738 tin bài trên phương tiện thông tin đại chúng. Toàn tỉnh có 1.408 tổ hòa giải với 8.882 hòa giải viên. Các tổ hòa giải được cơ cấu đầy đủ thành phần như: Bí thư chi bộ, trưởng thôn, già làng, trưởng bản, trưởng ban mặt trận, hội nông dân, phụ nữ, cựu chiến binh và những người có uy tín, đủ năng lực được lựa chọn. Ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thành viên tổ hòa giải còn có người dân tộc thiểu số. Mỗi tổ hòa giải có từ 05 - 07 tổ viên, đa số có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên, trong đó, có 136 hòa giải viên có trình độ chuyên môn luật. Việc biên soạn, phát hành tài liệu, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ cho hòa giải viên và cuộc thi hòa giải viên giỏi được chú trọng thực hiện. Các tổ hòa giải, hòa giải viên trên địa bàn tỉnh đã tiến hành thụ lý 6.865 vụ việc, trong đó, hòa giải thành 5.958 vụ việc (đạt tỷ lệ 86,8%); hòa giải không thành 750 vụ việc; số vụ đang giải quyết là 157. Thông qua hoạt động hòa giải đã góp phần duy trì, củng cố sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phát huy đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật trong cộng đồng dân cư.
Việc thực hiện Luật đã tác động tích cực trong đời sống xã hội, Luật đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đi vào nền nếp, thống nhất và hoạt động có hiệu quả. Luật đã tạo bước chuyển biến trong công tác hòa giải ở cơ sở, hầu hết các tổ hòa giải đã được kiện toàn bảo đảm đúng số lượng và thành phần theo quy định, chất lượng hòa giải được nâng lên thể hiện qua tỷ lệ các vụ hoà giải thành năm sau cao hơn năm trước, số vụ hoà giải ngày càng tăng đã hỗ trợ đắc lực cho chính quyền địa phương trong việc giải quyết trực tiếp những vụ việc vi phạm pháp luật, tranh chấp nhỏ trong nhân dân, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; hạn chế đơn thư, khiếu nại vượt cấp; tiết kiệm thời gian và tiền bạc của cơ quan nhà nước và công dân. Công tác tập huấn nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho lực lượng hòa giải viên ở cơ sở luôn được chú trọng, thực hiện thường xuyên. Mạng lưới tổ hoà giải được củng cố, mở rộng ở khắp các làng, bản, thôn, xóm, tiểu khu, khu phố và các cụm dân cư; thu hút được nhiều thành phần, nhiều lực lượng tham gia như: Mặt trận Tổ quốc, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội người cao tuổi, hội cựu chiến binh, hội nông dân và những người có uy tín, đủ năng lực được lựa chọn.
Công tác hòa giải ở cơ sở đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, hình thành trong mỗi cá nhân ý thức chấp hành pháp luật, ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng địa phương ngày càng giàu mạnh, văn minh. Các cấp, các ngành và các địa phương cơ bản đã xác định vai trò quan trọng của công tác hoà giải ở cơ sở, vì vậy quá trình thực hiện đã có sự phối hợp chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện Luật trên địa bàn tỉnh Quảng Bình vẫn còn một số vướng mắc cần phải tập trung tháo gỡ, đó là:
- Luật chưa phân định rạch ròi giữa hòa giải ở cơ sở và hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường nên một số địa phương cho rằng, hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã (như tranh chấp đất đai) cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật và thuộc trách nhiệm của tổ hòa giải nên dẫn đến đùn đẩy, kéo dài gây khó khăn cho người dân khi có yêu cầu thụ lý giải quyết.
- Luật chỉ quy định khi nhận được yêu cầu hoặc khi biết vụ việc thuộc phạm vi hòa giải thì hòa giải viên tiến hành hòa giải mà chưa quy định cụ thể thời hạn tiến hành hòa giải cho từng vụ việc cụ thể. Mặt khác, Luật cũng chưa có quy định về giới hạn số lần hòa giải không thành tối đa cho mỗi vụ việc, nếu không đạt kết quả hòa giải thành thì phải chuyển đến cơ quan chức năng giải quyết nhằm tạo thuận lợi để các bên giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn. Những vấn đề này gây khó khăn cho hòa giải viên khi giải quyết vụ việc.
- Luật chưa quy định thiết chế hòa giải tranh chấp, mâu thuẫn trong một cơ quan, tổ chức cụ thể...
- Luật vẫn còn để ngỏ một hình thức tổ chức hòa giải mà một số quốc gia đã và đang áp dụng có hiệu quả, đó là trung tâm hòa giải cộng đồng. Ở các nước trong khu vực ASEAN, mô hình trung tâm hòa giải cộng đồng rất phát triển và hoạt động hiệu quả như ở Singapore - một quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam. Trung tâm hòa giải cộng đồng là mô hình tổ chức mới. Ở Việt Nam chỉ mới áp dụng hòa giải tại cộng đồng cho người dưới 18 tuổi (theo Bộ luật Hình sự năm 2015) chứ chưa có mô hình trung tâm hòa giải cộng đồng.
- Quá trình thực thi Luật cho thấy, hiệu lực của thỏa thuận hòa giải trong hòa giải ở cơ sở chưa cao, các bên hòa giải có thể thay đổi không thực hiện theo thỏa thuận nên đã dẫn đến tình trạng hạn chế việc sử dụng phương pháp này…
Pháp luật về hòa giải đã xây dựng các chuẩn mực pháp lý cho các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân thực hiện quản lý và tham gia công tác hòa giải và là cơ sở pháp lý để củng cố, kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ hòa giải, bảo đảm các tranh chấp, mâu thuẫn, vi phạm pháp luật được phát hiện kịp thời và được giải quyết ngay từ cơ sở. Vì vậy, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải vừa là yêu cầu cấp bách của thực tiễn khách quan, vừa là hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ hòa giải. Cụ thể: (i) Luật cần phân định cụ thể giữa hòa giải ở cơ sở và hòa giải ở Ủy ban nhân dân phường để tránh tình trạng đùn đẩy, kéo dài gây khó khăn cho người dân khi có yêu cầu thụ lý giải quyết; (ii) Luật cần quy định chi tiết thời hạn tiến hành hòa giải và số lần hòa giải không thành tối đa cho mỗi vụ việc để tránh gây khó khăn cho hòa giải viên trong việc áp dụng pháp luật; (iii) Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở để khuyến khích các bên tranh chấp, mâu thuẫn trong một cơ quan, tổ chức cụ thể áp dụng phương thức hòa giải ở cơ sở; (iv) Nghiên cứu thành lập trung tâm hòa giải cộng đồng để khuyến khích và thu hút sự tham gia của các trung tâm tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý… với các luật sư, luật gia, các chuyên gia pháp lý… sẽ đem lại hiệu quả hơn so với các mô hình hòa giải thông thường do xuất phát từ chính chất lượng của chính những người làm công tác hòa giải; (v) Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có quy định thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Triển khai quy định này, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 1503/BTP-PBGDPL ngày 05/5/2017 hướng dẫn thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở. Trong thời gian tới, cần phải nâng quy định của công văn thành quy định của Luật mới đảm bảo tính khả thi cao.
Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, thì một trong những vấn đề quan trọng quyết định đến chất lượng công tác hòa giải đó chính là kinh phí. Không có kinh phí thì việc triển khai sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở thì kinh phí hoạt động của các tổ hòa giải do ngân sách nhà nước cấp. Mặc dù, ở Quảng Bình, từ năm 2012, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 42/2012/NQ-HĐND ngày 12/7/2012 quy định về nội dung chi, mức chi và kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp và công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và đến năm 2015 được thay thế bằng Nghị quyết số 106/2015/NQ-HĐND ngày 17/7/2015 quy định nội dung chi, mức chi cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; công tác hòa giải ở cơ sở; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (Nghị quyết này được Ủy ban nhân dân tỉnh cụ thể hoá bằng Quyết định số 30/2015/QĐ-UBND ngày 25/9/2015) nhưng do Quảng Bình là một trong những địa phương chưa tự cân đối được ngân sách nên việc bố trí kinh phí riêng cho công tác hòa giải ở cơ sở chưa có hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu. Tại cấp xã, hầu như chưa có đơn vị nào thực hiện mức chi cho công tác hòa giải theo quy định. Vì vậy, thiết nghĩ để công tác này nâng cao hiệu quả trong thời gian tới, đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính sớm tham mưu bố trí kinh phí công tác hòa giải ở cơ sở cho các địa phương chưa tự chủ về kinh phí theo quy định Điều 6 của Luật và Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở. Trong đó, quan tâm đến địa phương cấp cơ sở để hỗ trợ cho hòa giải viên, tổ hòa giải và tổ chức hội thi ở cấp cơ sở - một trong những hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật mang lại hiệu quả cao nhất và thiết thực nhất đối với người dân ở cơ sở.
Tuyết Hà
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình
Liên kết website