Khơi dậy niềm đam mê nghiên cứu khoa học trong đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp
Sign In

Khơi dậy niềm đam mê nghiên cứu khoa học trong đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp

Nghiên cứu khoa học là hoạt động được tiến hành có chủ đích tìm hiểu tri thức mới, được thực hiện với phương pháp và quy trình khoa học nhằm nhận biết, giải thích một sự vật, sự việc, hiện tượng, từ đó đóng góp thêm, đóng góp điểm mới vào khối tri thức sẵn có của con người[1]. Trong đó, nghiên cứu khoa học pháp lý là hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội lấy nhà nước và pháp luật là đối tượng nghiên cứu[2], trên cơ sở luận bàn về thực trạng nhà nước và pháp luật, từ đó cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học nhằm đề xuất, kiến giải hoàn thiện nhà nước và pháp luật. Hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng là nền tảng, là động lực của mọi hoạt động, việc thực hiện tốt hoạt động này là phương thức để nâng cao trình độ, chất lượng của chính người nghiên cứu, nâng cao chất lượng công việc, đồng thời cung cấp các sản phẩm khoa học phục vụ cho cộng đồng và xã hội.
Đối với công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ, Ngành Tư pháp, hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý có mối quan hệ mật thiết và đóng vai trò quan trọng, giữa chúng có tác động qua lại lẫn nhau, chúng vừa là điều kiện, tiền đề, vừa là hệ quả của nhau, cùng song song tồn tại và phát triển. Trong đó, hoạt động nghiên cứu khoa học làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, nhận diện rõ thực trạng (thực trạng pháp luật và thực trạng tổ chức thi hành), những khó khăn, bất cập còn tồn tại, cung cấp các luận cứ, luận chứng để giải thích, làm rõ sự vật, hiện tượng, từ đó, đề xuất chính sách, mô hình, quy định, kiến giải các giải pháp để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngược lại, hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật lại đặt ra chính các vấn đề lý luận và thực tiễn mới mà hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý phải luận bàn, làm rõ, kiến giải khắc phục.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 lần đầu tiên đã chính thức thừa nhận mối lương duyên không thể chia cắt của hoạt động “xây dựng pháp luật” với hoạt động “nghiên cứu khoa học pháp lý”[3]. Trong đó, hoạt động xây dựng pháp luật là quá trình ra quyết định, đó là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền chọn lựa giải pháp tối ưu nhất để giải quyết các vấn đề của thực tiễn xã hội. Muốn chọn lựa được giải pháp như vậy, thông tin có liên quan tới vấn đề cần giải quyết và thông tin có liên quan về giải pháp dự kiến chọn lựa là đầu vào không thể thiếu và để có được những thông tin đó, hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý đóng vai trò rất quan trọng.
Hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, Ngành Tư pháp trong thời gian vừa qua, nhất là từ khi đất nước ta tiến hành đường lối đổi mới đến nay đã có những bước phát triển nhất định, góp phần quan trọng vào việc tổ chức thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của Bộ, Ngành Tư pháp, cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học cho việc hoạch định các chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển; xây dựng chức năng, nhiệm vụ, tổ chức ngành; hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp… Những đóng góp này thể hiện khá rõ trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, nghiên cứu phục vụ sửa đổi Hiến pháp năm 1992, triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và xây dựng những dự án luật quan trọng của đất nước, như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (hợp nhất), Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công chứng, Luật Hộ tịch...
Qua những thành công của công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của Bộ, Ngành Tư pháp, có thể khẳng định rằng, sự đóng góp của hoạt động nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học pháp lý là rất lớn. Trên cơ sở các định hướng nghiên cứu khoa học pháp lý trọng tâm được Bộ, Ngành Tư pháp xác định, các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đã ngày càng gắn kết và bám sát với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ, Ngành Tư pháp. Việc xây dựng mỗi dự án luật do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, sửa đổi luôn có các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học được thực hiện trước đó, với những đóng góp rất có giá trị về mặt lý luận, chính sách. Những thành tựu trên có được bên cạnh nhờ sự đóng góp của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học có “tầm” và có “tâm” của Bộ, Ngành Tư pháp, còn có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp.
Với lực lượng khá hùng hậu, 1.572 đoàn viên, thanh niên từ 36 chi đoàn, đoàn cơ sở trực thuộc (09 chi đoàn, 18 chi đoàn cơ sở, 04 đoàn cơ sở và 05 đoàn trường trung cấp), trong đó, có 569 đoàn viên là công chức, viên chức cơ quan thuộc Bộ, chiếm 37% tổng số công chức, viên chức Bộ Tư pháp, cộng với sức trẻ, nhiệt huyết, đam mê, cũng như với vốn kiến thức pháp lý, ngoại ngữ ngày càng phát triển theo hướng chuyên sâu, hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý phục vụ cho công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật thuộc chức năng của Bộ, Ngành Tư pháp của đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp trong thời gian vừa qua, đặc biệt trong năm 2017 đã đạt được một số kết quả như sau:
- Về tổ chức, lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp, Ban Chuyên môn và nghiên cứu khoa học được thành lập và đi vào hoạt động, với chức năng, nhiệm vụ tham mưu Ban Chấp hành Đoàn Bộ triển khai các nhiệm vụ về chuyên môn và nghiên cứu khoa học. Đó là sự khẳng định hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý của đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp đã thực sự được coi trọng.
- Về hoạt động, việc tham gia nghiên cứu khoa học pháp lý của đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp ngày càng tích cực, số lượng công chức, viên chức trẻ tham gia, cũng như số lượng, chất lượng chuyên đề nghiên cứu trong việc triển khai các nhiệm vụ khoa học có chiều hướng tăng lên[4]. Lần đầu tiên, Đoàn Thanh niên Bộ trúng tuyển và đang tiến hành triển khai nghiên cứu đề tài cấp Bộ “Nhận diện những rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp - Thực trạng và giải pháp khắc phục”, trong đó, mục tiêu hướng tới là chỉ ra được nhu cầu thực tế và những thách thức cơ bản ở khía cạnh pháp lý cần phải giải quyết trong giai đoạn khởi nghiệp; nhận diện được đầy đủ, rõ ràng các rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam hiện nay; xác định được phương hướng, mục tiêu và các giải pháp trước mắt, lâu dài có tính khả thi, toàn diện để tháo gỡ các rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp và đề xuất các cơ chế cần thiết để bảo đảm thực thi hiệu quả các quy định của pháp luật đối với hoạt động khởi nghiệp.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng đã mở một số lớp bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu khoa học, nâng cao năng lực công bố các bài báo khoa học trong nước, điều này góp phần khơi dậy niềm đam mê nghiên cứu khoa học cho đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp.
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng thể, thẳng thắn thì hoạt động tham gia nghiên cứu khoa học của đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với số lượng, chất lượng, sức trẻ, sự nhiệt huyết của đội ngũ công chức, viên chức trẻ, điều này thể hiện ở các góc độ:
- Hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp mới chỉ tập trung chủ yếu ở các đơn vị có chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý như: Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý và một số trường trung cấp luật; sự tham gia nghiên cứu khoa học của công chức trẻ tại các đơn vị thuộc khối xây dựng pháp luật, quản lý nhà nước chiếm tỷ lệ tương đối thấp[5].
- Tỷ lệ đoàn viên, thanh niên được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học cũng rất thấp, ví dụ, trong giai đoạn 2011 - 2015, số đoàn viên, thanh niên được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học là 04 nhiệm vụ trên tổng số 157 nhiệm vụ khoa học của Bộ (chiếm tỉ lệ 2,5%)[6].
- Số lượng đoàn viên, thanh niên Bộ Tư pháp có các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật trong nước có số lượng rất ít.
Những tồn tại nói trên do một số nguyên nhân cơ bản sau:
Một là, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp cơ sở đều là các đề tài khó, muốn làm Chủ nhiệm đề tài, ngoài niềm đam mê khoa học, đòi hỏi phải có kinh nghiệm, khả năng tổ chức, huy động các cán bộ tham gia đề tài.
Hai là, nhận thức về tầm quan trọng của công tác nghiên cứu khoa học pháp lý gắn liền với hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật của một bộ phận công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp còn chưa thật sự sâu sắc, do đó mà số lượng công chức, viên chức trẻ tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý còn thấp. Thực tế cho thấy, có rất ít công chức, viên chức trẻ ở các đơn vị thuộc Bộ chủ động tìm đến các tổ chức khoa học và công nghệ của Bộ tham gia nghiên cứu khoa học để phục vụ cho hoạt động chuyên môn được giao.
Ba là, năng lực, kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học của một bộ phận công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp còn có những hạn chế nhất định, còn lúng túng trong việc lựa chọn đề tài nghiên cứu, triển khai, tiếp cận, xử lý tài liệu hay viết một báo cáo kết quả nghiên cứu, điều tra, khảo sát.
Bốn là, trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh pháp lý của đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp nhìn chung còn yếu, gây cản trở cho việc tiếp cận, xử lý tài liệu nước ngoài phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học.
Trong thời gian tới, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ, Ngành Tư pháp được xác định là rất nặng nề khi đặt trong bối cảnh quan trọng như: (i) Đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020; (ii) Chú trọng các yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền, tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu đặt ra của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ nhân dân.
Đặc biệt, trong bối cảnh đã đến lúc chúng ta bước sang giai đoạn hoàn thiện thể chế, pháp luật theo chiều sâu, trong đó, không nên cổ súy cho việc ban hành nhiều luật và các văn bản hướng dẫn mà cần đặc biệt đề cao việc kiểm soát, nâng cao chất lượng văn bản pháp luật, gỡ bỏ các mâu thuẫn, chồng chéo, nhằm tạo ra hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận với chi phí tuân thủ thấp[7]. Điều này đòi hỏi công tác nghiên cứu khoa học pháp lý nói chung, hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý của đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp nói riêng trong thời gian tới cần phải được nâng lên tầm cao mới về tính tiên phong, tính ứng dụng, tính thực tiễn, độ chuyên nghiệp và năng lực hội nhập quốc tế. Để đáp ứng được đòi hỏi đó, cũng như khơi dậy niềm đam mê nghiên cứu khoa học của đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp cần nhiều giải pháp đồng bộ, toàn diện từ phía các cơ quan có thẩm quyền cũng như đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu.
Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý của đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp, để thu hút rộng rãi công chức, viên chức trẻ tham gia cũng như nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này, tác giả có một số ý kiến đề xuất sau:
Thứ nhất, về phía đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp
(i) Nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò, ý nghĩa của hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý đối với công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ, Ngành Tư pháp, từ đó, xác định hoạt động nghiên cứu khoa học là một hoạt động thường xuyên, hoạt động “mở đường”, “tiên phong” cho công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật cũng như hoạt động quản lý nhà nước trên các kĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ, Ngành Tư pháp, một mặt, nhằm hỗ trợ chính cho hoạt động chính trị, chuyên môn được giao, mặt khác, phát hiện, luận giải, đề xuất, kiến nghị cho công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật;
(ii) Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao kiến thức pháp lý, chuyên môn và nghiệp vụ; tích cực, mở rộng học tập, nghiên cứu pháp luật quốc tế để tiếp thu những cái hay, cái tinh túy, từ đó, góp phần xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, phù hợp với xu thế chung của thời đại là hòa bình, dân chủ và tiến bộ;
(iii) Thay đổi nhận thức, đổi mới phương pháp để trau dồi, tinh thông ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh pháp lý, xác định đây là một công cụ không thể thiếu trong hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý, từ đó, có định hướng, mục tiêu, giải pháp, lộ trình phù hợp để nâng cao trình độ ngoại ngữ;
(iv) Trau dồi kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý, đặc biệt là kỹ năng lựa chọn đề tài nghiên cứu, tiếp cận, xử lý tài liệu; viết một báo cáo kết quả nghiên cứu.
Thứ hai, về phía Ban Chấp hành Đoàn Bộ
(i) Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học, tiến tới thành lập câu lạc bộ các nhà khoa học trẻ, câu lạc bộ tiếng Anh pháp lý trực thuộc Đoàn Thanh niên Bộ, nhằm tạo ra diễn đàn, “sân chơi” cho những công chức, viên chức trẻ có niềm đam mê khoa học, tiếng anh pháp lý hướng tới việc trau rồi, nâng cao kỹ năng nghiên cứu, tiếng Anh pháp lý.
(ii) Kết hợp, lồng ghép sáng tạo, hiệu quả giữa hoạt động phong trào đoàn thanh niên với hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý, tăng cường công tác tập huấn về kỹ năng nghiên cứu khoa học;
(iii) Tích cực tham gia đăng ký, tuyển chọn và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các nhiệm vụ, đề tài cấp Bộ.
Thứ ba, về phía Lãnh đạo Bộ Tư pháp
(i) Quan tâm và đầu tư hơn nữa về cơ chế, chính sách, kinh phí cho công tác nghiên cứu khoa học nói chung, công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của đội ngũ công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp nói riêng; tạo cơ hội nhiều hơn nữa để công chức, viên chức trẻ được thực hiện nhiều nhiệm vụ khoa học.
(ii) Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, trong đó, chú trọng đến đối tượng là công chức, viên chức trẻ. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu để xây dựng đội ngũ trí thức luật thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế.
(iii) Tăng cường, đổi mới công tác khen thưởng, tôn vinh các tập thể, cá nhân nói chung, công chức, viên chức trẻ nói riêng có thành tích xuất sắc, đóng góp lớn trong nghiên cứu khoa học pháp lý nhằm khuyến khích đội ngũ công chức, viên chức trẻ tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học.
ThS. Ngô Thanh Xuyên
Bí thư Chi đoàn Viện Khoa học pháp lý
 
 
[1]. PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa (2014), Phương pháp nghiên cứu luật học, Nxb. Công an nhân dân, tr. 11, 12.
[2]. TS. Nguyễn Văn Cương, Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý - Những vấn đề cơ bản,
xem: http://khpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=36.
[3]. TS. Nguyễn Văn Cương, tldd.
[4]. Ví dụ: Về hoạt động viết chuyên đề nghiên cứu (năm 2011: 10 lượt tham gia; năm 2015: Tăng lên 32 lượt tham gia); về hoạt động viết báo cáo tham luận (năm 2011: 07 lượt tham gia; năm 2015 đã tăng lên 23 lượt tham gia).
[5]. Qua tìm hiểu, mặc dù những năm gần đây, tỷ lệ công chức trẻ tại các đơn vị xây dựng pháp luật tham gia viết chuyên đề nghiên cứu của các nhiệm vụ khoa học pháp lý của Bộ Tư pháp có xu hướng tăng, nhưng cũng chỉ chiếm tỷ lệ dưới 20% (so với tổng số công chức, viên chức trẻ Bộ Tư pháp tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học).
[6]. ThS. Nguyễn Thị Lan (2016), “Thực trạng và giải pháp thu hút đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong độ tuổi thanh niên làm công tác nghiên cứu khoa học”, tham luận Hội thảo của Đoàn thanh niên Bộ Tư pháp năm 2016.
[7]. Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long (2017), Bài phát biểu tại Hội nghị Trung ương lần thứ 5 Khóa XII.