Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Sign In

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bộ luật đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm thể chế hóa quan điểm cải cách tư pháp của Đảng, trên cơ sở kế thừa truyền thống pháp lý của Việt Nam, vừa tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia.“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”là một trong những điểm mới quan trọng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc tranh tụng
Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm là nguyên tắc mới, lần đầu tiên được quy định với vị trí là một nguyên tắc riêng biệt trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Việc luật hóa nguyên tắc này thể hiện rõ về tư tưởng đề cao tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp.
Tranh tụng là hoạt động của các bên đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hoặc toàn bộ quan điểm của phía bên kia. Tranh tụng là cơ sở để Tòa án đánh giá toàn bộ nội dung vụ án và đưa ra phán quyết cuối cùng bảo đảm tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Cơ sở chính trị của nguyên tắc này đã được đề cập đến từ Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng của phiên tòa…”. Tiếp đó, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đưa ra chủ trương và định hướng: “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Nghị quyết số 37/NQ-QH13 của Quốc hội khóa XIII ngày 23/11/2012 cũng đã yêu cầu: “Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo các Tòa án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên tòa”.
Về cơ sở pháp lý, xác định tầm quan trọng của hoạt động tranh tụng trong xét xử, quan điểm, chủ trương của Đảng đã được thể chế hóa ở trong Hiến pháp 2013[1], đòi hỏi các luật chuyên ngành phải kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tinh thần của đạo luật gốc. Trên cơ sở Hiến pháp và chủ trương của Đảng, tại Điều 13 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử. Việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo quy định của luật tố tụng”.
Đề cập đến tố tụng hình sự Việt Nam, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2013 cũng đã có nhiều quy định chứa đựng nguyên tắc tranh tụng như: Điều 19[2], Điều 222[3]... Mặc dù vậy, các quy định trên còn thiếu tính cụ thể, chưa có quy định nào chính thức ghi nhận nguyên tắc này để có cơ chế đảm bảo tranh tụng nên thực tiễn hoạt động chưa phát huy hiệu quả.Trên nền tảng nguyên tắc hiến định và theo tinh thần cải cách tư pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Đây là quy định mới nổi bật, là cơ sở cho những quy phạm pháp luật tố tụng hình sự khác cũng được thay đổi để phù hợp với định hướng mô hình tố tụng của Việt Nam. Với nguyên tắc mới này sẽ tạo bước đột phá cho tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực.
Dưới góc độ thực tiễn, quan điểm hợp lý hiện nay là thừa nhận mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là mô hình pha trộn và định hướng hoàn thiện xây dựng mô hình pha trộn thiên về tranh tụng phù hợp với yêu cầu của cải cách tư pháp ở nước ta và phù hợp với trào lưu chung của lịch sử tố tụng hình sự trên thế giới[4]. Chủ trương đẩy mạnh tranh tụng là giải pháp quan trọng, tạo những bước cải cách có tính đột phá trong hoạt động tư pháp hình sự, trên quan điểm cơ bản của mô hình tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay là mô hình thẩm vấn kết hợp với tranh tụng[5]. Đây là bước đi hết sức đúng đắn với lộ trình phù hợp; trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, chính trị - xã hội và đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm các nước, phát huy những ưu điểm vốn có của mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn, chọn lọc những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng.
2. Nội dung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Theo quy định của nhà làm luật, tranh tụng xuất hiện từ giai đoạn khởi tố đến giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Tuy tên gọi của điều luật là “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” nhưng không phải nguyên tắc này chỉ giới hạn phạm vi ở giai đoạn xét xử mà nội hàm nguyên tắc này theo giải thích của điều luật là bao gồm các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án: “Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử…”[6]. Quy định này đã chính thức bác bỏ nhiều quan điểm trước đây cho rằng tranh tụng chỉ xuất hiện khi có xét xử và chỉ có tranh tụng khi tại Tòa án. Quy định nêu trên nhằm tạo ra sự bình đẳng giữa các bên buộc tội và bào chữa trong việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ để thực hiện chức năng của mình. Để tiến hành việc tranh tụng và tranh tụng có hiệu quả thì các bên cần có thời gian và các điều kiện cần thiết để thu thập các tài liệu, chứng cứ và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án (tiền xét xử) trước khi bước vào cuộc tranh tụng tại phiên tòa (xét xử).
Chủ thể tham gia tranh tụng theo quy định bao gồm: “Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án”. Nhìn từ quy định này có thể thấy được tính chất hai bên trong tranh tụng: (i) Những chủ thể đại diện cho Nhà nước, thực hiện chức năng buộc tội (Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng); (ii) Một bên đại diện cho quyền lợi của chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, thực hiện chức năng gỡ tội (người bị buộc tội, người bào chữa). Đối với “người tham gia tố tụng khác” thì có thể là những chủ thể không thực hiện cả hai chức năng buộc tội hoặc gỡ tội (chẳng hạn như người làm chứng, người phiên dịch, người định giá tài sản…). Như vậy, quy định này đã mở ra điều kiện rất thuận lợi cho bên thực hiện chức năng bào chữa trong việc tham gia tranh tụng, bởi vì, chủ thể thực hiện chức năng bào chữa theo truyền thống tố tụng thẩm vấn vẫn luôn bị đánh giá là bên yếu thế hơn khi tham gia tranh tụng.
Để tranh tụng có hiệu quả thì một trong những điều kiện quan trọng nhất là các bên buộc tội và gỡ tội phải thực sự bình đẳng với nhau và Tòa án phải đứng ở vị trí trung gian, độc lập, khách quan, bảo đảm cho hai bên thực hiện chức năng của mình. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa nhiều quy định về cơ chế tranh tụng. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảmxác định trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, các bên buộc tội và gỡ tội và người khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ và đưa ra yêu cầu đề làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Tại phiên tòa xét xử thì Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác (bên buộc tội và bên bào chữa) thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.Trên cơ sở có đầy đủ các chủ thể tranh tụng cũng như chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án, các bên sẽ tranh luận công khai tại phiên tòa để bảo vệ quan điểm của mình: “Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa”. Nguyên tắc này đã khẳng định tính bắt buộc phải có tranh tụng tại phiên tòa để Tòa án làm căn cứ đưa ra phán quyết của mình: “Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa”.
Luật hóa nguyên tắc tranh tụng một trong những bước đột phá tích cực phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng, cũng như thể chế hóa kịp thời quy định của Hiến pháp năm 2013. Đây là một giải pháp được đánh giá là sự chuyển biến tích cực trong tiến trình tố tụng hình sự của Việt Nam nhằm phù hợp với quy luật khách quan vốn có của nó. Nguyên tắc tranh tụng nêu trên đã khẳng định về phạm vi, chủ thể tranh tụng và bước đầu tạo lập cơ chế tranh tụng của các chủ thể. Bên cạnh ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo, nhà làm luật cũng đã có những sửa đổi, bổ sung kịp thời một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm tăng khả năng tranh tụng của các chủ thể để phù hợp với nguyên tắc này, tập trung vào một số vấn đề cơ bản như: (i) Tăng cường chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự; (ii) Sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tranh tụng; (iii) Quy định cụ thể về cơ chế tranh luận tại phiên tòa…
Như vậy,việc luật định nguyên tắc tranh tụng sẽ tạo ra cơ chế bảo đảm cho các bên thực hiện tranh tụng có hiệu quả trong thực tế; cụ thể hóa định hướng mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam; góp phần ngăn ngừa tình trạng oan, sai; bảo đảm quyền con người và tiến tới xây dựng nền tư pháp trong sạch, hiện đại.
3. Một số ý kiến đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Thứ nhất, mặc dù tên gọi là “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, tuy nhiên, nội hàm của nguyên tắc này không chỉ giới hạn trong xét xử mà bao gồm tranh tụng từ giai đoạn “khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử”. Theo quan điểm truyền thống khoa học pháp lý trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì tranh tụng chỉ có ở giai đoạn xét xử và thể hiện rõ nét tại phiên tòa xét xử như đã đề cập ở đầu bài viết. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ban hành đã khẳng định rõ vị trí, thời điểm của “tranh tụng” với tư cách là một nguyên tắc trong tố tụng. Do vậy, về tên gọi tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, theo quan điểm chúng tôi là chưa hợp lý. Để đảm bảo về mặt kỹ thuật lập pháp và thống nhất với nội hàm của điều luật, chúng tôi cho rằng nên điều chỉnh tên gọi là “Nguyên tắc tranh tụng được bảo đảm” sẽ hợp lý hơn. Bỏ thuật ngữ “trong xét xử” bởi vì không bao hàm được nội dung của điều luật.
Thứ hai, vấn đề đặt ra là thời điểm xuất hiện tranh tụngtừ khi nào? Từ giai đoạn khởi tố (bao gồm khởi tố vụ án và (hoặc) khởi tố bị can) hay từ khi xuất hiện đẩy đủ các chủ thể buộc tội và bào chữa. Như vậy, thời điểm xuất hiện tranh tụng đối với bị can phát sinh khi có quyết định khởi tố bị can, trường hợp này phù hợp với quy định của nguyên tắc. Tuy nhiên, đối với chủ thể bị buộc tội khác như người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt thì quyền bào chữa bắt đầu trước khi có quyết định khởi tố[7], thời điểm này chưa có quyết định khởi tố nhưng vẫn có thể có tranh tụng bởi vì đã có chủ thể buộc tội và bào chữa. Mặc khác, nếu quy định tranh tụng bắt đầu từ “khởi tố” thì bắt đầu từ khởi tố vụ án hay khởi tố bị can. Khi khởi tố vụ án thì chưa thể có tranh tụng vì có thể chưa phát sinh chủ thể bị buộc tội (không có sự tham gia của bên bào chữa, người bị buộc tội). Từ những vấn đề đặt ra, quy định về nguyên tắc tranh tụng cũng rất cần làm rõ thời điểm xuất hiện tranh tụng. Nếu không làm rõ thời điểm xuất hiện tranh tụng, dẫn đến không thống nhất trong nhận thức và không có cơ chế đảm bảo tranh tụng hợp lý để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể có liên quan, đặc biệt là đối với chủ thể bị buộc tội. Theo chúng tôi, phải xác định rõ thời điểm bắt đầu tranh tụng là khi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt hoặc từ khi khởi tố bị can là phù hợp.
Thứ ba, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có nhiều sự thay đổi tiến bộ nhằm tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự, tuy nhiên, nếu nhìn nhận ở góc độ toàn diện thì một số quy định vẫn chưa có sự thay đổi tích cực khi chưa có sự tách bạch rõ ràng về chức năng của các chủ thể tố tụng. Dường như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn tồn tại hai luồng đối lưu, một là các quy định của nhà làm luật có xu hướng muốn tăng cường tranh tụng trong tố tụng thông qua các quy định tích cực (vai trò, vị trí bên bào chữa, cơ chế tranh tụng) nhưng mặc khác vẫn còn nhiều các quy định mang truyền thống tố tụng thẩm vấn trói buộc hiệu quả tranh tụng của các bên. Thẩm quyền của các chủ thể thực hiện các chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử vẫn chưa tách bạch rõ ràng; gánh nặng chứng minh tội phạm của Tòa án còn lớn, cụ thể một số quy định về: (i) Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án; (ii) Thẩm quyền xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ của Tòa án; (iii) Thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát của Tòa án; (iv) Giới hạn xét xử tại tòa còn quá rộng; (v) Vai trò xét hỏi của các bên trong xét xử vẫn chưa rõ ràng.
Theo chúng tôi, nếu khi nào chủ thể thực hiện các chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử chưa thật sự bình đẳng với nhau thì sẽ gặp nhiều khó khăn để đảm bảo cho nguyên tắc tranh tụng được thực hiện trên thực tế. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập đến một trường hợp cụ thể là vấn đề xác định giới hạn xét xử của Tòa án. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng “giới hạn của việc xét xử” về trường hợp Toà án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố[8]. Đây là một điểm mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2013[9]. Chúng tôi đồng ý với quan điểm Tòa án vẫn có thể xét xử với tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, bởi vì, để đảm bảo nguyên tắc độc lập của Tòa án trong xét xử và cũng hợp lý với quy định hiện hành về việc xét xử của Tòa án chỉ đối với những con người và hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Hội đồng xét xử đã quyết định đưa ra xét xử; về vấn đề định tội danh hay quyết định hình phạt như thế nào là phụ thuộc vào quá trình thẩm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng của bên buộc tội - bào chữa ở phiên tòa. Tuy nhiên, quan điểm Tòa án vẫn có thể xét xử với tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố chỉ đúng trong trường hợp qua tranh luận, thẩm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa cả bên buộc tội (Viện kiểm sát) và bên bào chữa đều chấp nhận và thuyết phục đối với quyết định đó của Tòa án. Điều đó cũng có nghĩa là chúng tôi không đồng ý với quan điểm: “nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó”. Điều luật này đặt ra vấn đề khi Tòa án xét xử với tội danh mà Viện kiểm sát không đồng ý thì tại phiên tòa đó cơ quan nào sẽ đứng ra với vai trò là chủ thể buộc tội? Tòa án? Và nếu Viện kiểm sát không đưa ra cáo trạng truy tố mới mà giữ nguyên quan điểm buộc tội cũ và phiên tòa phải tiến hành xét xử lại. Ở phiên tòa xét xử lại này, thiết nghĩ sẽ không có tranh tụng và nếu có cũng không phải tranh tụng theo đúng nghĩa, bởi vì, không đủ các chủ thể tranh tụng. Và cũng không đặt ra vấn đề tranh tụng vì chưa tiến hành xét xử nhưng đã biết rõ tội danh thì tranh tụng không có mục đích và không còn ý nghĩa. Hoặc cũng giả thuyết này với tội danh mới thành lập nặng hơn đó không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đang xét xử thì bắt buộc phải chuyển vụ án; và trường hợp Viện kiểm sát cấp trên cũng giữ nguyên quan điểm của Viện kiểm sát cấp dưới thì xử lý như thế nào (điều này hoàn toàn có thể xảy ra). Thực tế này sẽ cho chúng ta cách hiểu là không có công tố nhưng có buộc tội. Theo chúng tôi, việc xét xử của Tòa án phải đảm bảo công bằng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, đặc biệt là không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Do vậy, đối với trường hợp này, chúng tôi có đề xuất cụ thể là trong trường hợp “nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố” thì Tòa án “khôngcó quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó” mà chỉ có thể quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp và (hoặc) chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp trên trực tiếp thụ lý; tức là trong trường hợp này chúng ta có thể xử lý như là sự xung đột thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát). Tuy nhiên, khả năng xảy ra sự xung đột trong thực tế giữa các chủ thể nêu trên sẽ không nhiều.
Trên đây là một số phân tích, đánh giá về “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” - một điểm mới mà theo chúng tôi đánh giá là rất quan trọng phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp và nguyên tắc Hiến định. Tuy rằng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã mở ra cơ chế thuận lợi cho bên bào chữa tham gia tranh tụng và tăng cường trách nhiệm cho bên buộc tội tham gia tranh tụng, nhưng thực tế thì cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể có liên quan phải nhận thức và hành động theo đúng quy định và tinh thần của pháp luật, phải có cơ chế văn hóa pháp lý tranh tụng cụ thể, thì lúc này tranh tụng trong xét xử mới thật sự mang lại hiệu quả.
Phan Văn Chánh
Trường Đại học An ninh nhân dân
 
[1] Xem: Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
[2] Xem:Điều 19. Bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án: “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”.
[3] Xem: Điều 222. Nghị án: “…Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà”.
[4] Nguyễn Thái Phúc, Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5(42)/2007.
[5]Trong nhiệm kỳ 2011 - 2015, Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương đã chỉ đạo Ban cán sự Đảng, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng Đề án “Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam”. Trong phiên họp ngày 12/03/2012 Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương đã cơ bản thống nhất với Đề án này, đã xác định mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo mô hình “thẩm vấn kết hợp với tranh tụng”. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
[6] Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[7] Xem: Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[8] Theo khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó”.
[9] Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2013 thì Tòa án không được xét xử người và những hành vi mà Viện kiểm sát không truy tố; hoặc xét xử theo tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.